Thứ bảy, 21/10/2017 | GMT+7
TIN VẮN
~ Chào mừng năm APEC Việt Nam 2017 ~~~ Năm APEC Việt Nam 2017: Tạo động lực mới, cùng vun đắp tương lai chung ~~~   ~~~    Nhiệt liệt chào mừng 100 năm cách mạng tháng mười Nga vĩ đại ~~~ Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa ~~~ Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam   ~~~   

Thông tin khoa học

Biện pháp giúp người học tiếng Anh sửa lỗi sai khi sử dụng động từ tiếng Anh

  1. Đặt vấn đề

      Với việc học ngữ pháp tiếng Anh, người học cần phải học các vấn đề ngữ pháp đa dạng và khó như tìm hiểu sâu về hiện tượng biệt ngữ, liên ngữ, đồng vị ngữ, cụm động từ, cụm danh từ, câu đơn, câu phức.

      Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy sinh viên (SV) ngại học cụm động từ và thường xuyên sử dụng sai khi viết hoặc giao tiếp, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của các em. Giảng dạy môn ngữ pháp cho người học tiếng Anh, tôi thấy việc đi sâu tìm hiểu nắm chắc về cụm động từ là rất cần thiết và quan trọng nên cần phải tìm ra phương pháp dạy cụm động từ hiệu quả nhất giúp SV hiểu, đam mê sử dụng cụm động từ thật thành thạo, thật linh hoạt và thật tự tin trong mọi tình huống.

       Để góp phần tạo hứng thú cho người học cũng như người dạy, bài viết này nhằm giúp SV chuyên ngành tiếng Anh cũng như SV không chuyên quan tâm tới việc học cụm động từ, nhận ra được những lỗi sai mà mình thường gặp phải để tránh được một số lỗi sai thông dụng một cách hiệu quả nhất để từ đó hứng thú hơn khi học cụm động từ

  1. Một số lỗi sai khi sử dụng cụm động từ của sinh viên

     Qua quá trình giảng dạy và qua các bài kiểm tra về cụm động từ, tôi nhận thấy SV  khi sử dụng cụm động từ thường mắc những lỗi phổ biến như sau:

  1. Sai về mặt ngữ nghĩa

     Rất nhiều SV khi sử dụng cụm động từ mắc lỗi về mặt ngữ nghĩa, hiểu sai nghĩa của cụm động từ do SV dùng đúng động từ nhưng lại sai tiểu từ.

     VD1: He fills up many forms (fill up phải chuyển thành fill in)

     VD2: They throw garbage out everywhen and everywhere (throw....out có nghĩa là phát cái gì ra, không phù hợp với ngữ cảnh của câu trên, vì thế phải thay bằng cụm động từ throw....away)

      Hoặc SV dùng đúng tiểu từ nhưng sai động từ.

     VD1: He tried to come back to Hanoi (come back phải chuyển thành go back)

     VD2: We  don’t get along with this view (get along with có nghĩa là sống hòa thuận với ai, không phù hợp với ngữ cảnh của câu trên, vì thế phải thay bằng cụm động từ go along with)

  1. Sai về việc sử dụng cụm động từ tối nghĩa

      Nhiều SV thường sử dụng cụm động từ không thực sự tồn tại trong tiếng Anh. Bởi vì SV khi sử dụng câu bí từ quá nên tự tạo ra cụm động từ mới bằng sự kết hợp các động từ và giới từ không có trong ngôn ngữ đó.

     VD1: People who decide to marry are usually more responsible and they can trust each other more because they know that in case of proplem they do not just split apart. (split apart phải thay thế là: split up)

     VD2: Tet holiday occurs around from the end of jenuary to the beginning of Febuary (cụm động từ occurs around mà sinh viên đã sử dụng là không đúng, do SV tự sáng tạo ra. Vì thế cụm động từ thích hợp để thay thế ở đây là take place)

    VD3: They often wish about the good and lucky things for the upcoming year (wish about phải thay thế bằng cụm động từ pray for)

  1. Sai về cú pháp

     SV được tham khảo mắc lỗi sai về cú pháp liên quan đến nội động từ và ngoại động từ.

    VD1: I’ll look your dog after while you’re on vacation (Câu sai)

    I’ll look after your dog  while you’re on vacation (Câu đúng)

    VD2: My parents don’t let into me the night party (Câu sai)

     My parents don’t let me into me the night party (Câu đúng)

Ví dụ về cách sử dụng: Chose/Choose: Choose được phát âm là /t∫u:z/ với âm 'u' và chữ 'z' ở cuối trong khi Chose / t∫ouz/ được đọc như nose. Chose là động từ thời quá khứ của Choose. If you had to choose to visit Timbuktu, chances are you chose to fly there.

Cách sử dụng: Lose/Loose: Trường hợp này khác với trường hợp trên ở chỗ hai từ này không liên quan tới nhau. Lose là động từ chỉ việc mất đi một cái gì đó trong khi loose là tính từ chỉ sự lỏng lẻo. My trousers are too loose. I hope I don't lose my games if I wear it.

Sử dụng từ: literally: Đây là một trong những từ hay bị lạm dụng và dẫn tới việc câu văn/nói trở nên rất buồn cười khi bị dùng sai từ. Literally có nghĩa là "it really happened" và chỉ được sử dụng để nói về những thứ được hiển nhiên công nhận.

Ví dụ: He literally exploded after swallowing the grenade. Điều này là hiển nhiên vì nếu anh ta nuốt một quả lựu đạn, quả lựu đạn nổ thì anh ta cũng nổ theo. Thế nhưng, nói là she annoyed him and he literally exploded thì lại là lạm dụng bởi vì đây không phải là một sự thật hiển nhiên (fact) trừ phi cô này là siêu nhân lựu đạn.

  1. Một vài biện pháp giúp sinh viên khắc phục lỗi sai khi sử dụng động từ tiếng Anh
    1. Học theo nhóm từ

    SV có thể sắp xếp các cụm động từ theo nhóm các động từ, hoặc nhóm tiểu từ, hoặc nhóm chủ đề (xét theo trường nghĩa của cụm động từ).

    Sử dụng sơ đồ tư duy là một cách hiệu quả để học thuộc cụm từ một cách dễ dàng, hiệu quả và khoa học hơn.

  1. Sử dụng nhật ký học tập

    SV nên ghi chép và bổ sinh thường xuyên vào sổ học tập theo cách riêng của từng em; các cụm động từ cần có tân ngữ (pick up, look after); các cụm động từ đi cùng với một danh từ (call off, set up+ a meeting); hoặc các cụm động từ đồng nghĩa (go on, keep on)- trái nghĩa (get on, get off)...

  1. Thực hành

     SV cần thường xuyên vận dụng các cụm động từ đã học trong bài viết, bài nói (dịch Việt-Anh, học viết qua tranh, viết luận ngắn, thư phản hồi, luyện nói) để ghi nhớ và hiểu sâu hơn về cách sử dụng của các cụm động từ.

  1. Tự học

Để cải thiện học tiếng Anh cần nâng cao năng lực tự học, trước hết, SV cần tin tưởng vào khả năng tự học của mình; đồng thời phải phát huy tối đa nội lực và tận dụng triệt để các yếu tố khách quan, nhất là sự hướng dẫn của giáo viên (GV).

 

Cụ thể, cần xác định được mục đích, động cơ, nhu cầu học tập; xây dựng thời gian biểu hợp lý giữa các môn học, địa điểm, thời gian, hình thức tự học... Có thể có sự điều chỉnh thời khóa biểu trong quá trình tự học nhưng phải có ý chí hoàn thành thời gian biểu đã đặt ra.

 

Có phương pháp học tập khoa học trên lớp: cách lắng nghe GV, cách ghi chép, tập trung và phối hợp chặt chẽ các giác quan vào quá trình thu nhận thông tin từ thầy, bạn học, đặt ra những câu hỏi nảy sinh trong quá trình nghe thầy giảng …;

 

Có phương pháp tự học một cách khoa học và hợp lý: Biết cách đọc tài liệu để phát hiện bản chất của vấn đề, biết cách tóm tắt và ghi chép.

 

Ví dụ: ghi lại kiến thức bằng sơ đồ logic để thấy được mối liên hệ giữa các kiến thức; giữa kiến thức mới tìm được và kiến thức đã biết; biết cách tổng kết như cho ví dụ minh họa và phản ví dụ giúp ghi nhớ và tái hiện;

 

Biết cách tự thắc mắc và đặt câu hỏi thắc mắc với bạn bè, thầy cô và những người am hiểu;

 

Biết vận dụng kiến thức tự học vào trả lời câu hỏi, giải bài tập, vào chuyên môn và thực tiễn cuộc sống;

 

Nên tạo nhóm tự học: là điều kiện cho các thành viên trong nhóm thảo luận, trao đổi, chia sẻ kiến thức kinh nghiệm tự học cùng nhau;

 

Nên trao đổi thường xuyên tài liệu tham khảo, sách, báo, băng hình,...; biết tiếp cận và tận dụng các công nghệ mới để học tập; tránh bệnh tự ti, ỷ lại, tâm lý dễ thỏa mãn.

 

Đồng thời, phải biết kết hợp học tập với hoạt động giải trí, thể thao để giảm bớt áp lực trong quá trình tự học.

 

Khi tự học của môn học nào đó, SV cần phải thực hiện các bước sau:

 

Nghiên cứu kĩ đề cương chi tiết học phần; xác định mục tiêu của nội dung tự học; tìm tài liệu tham khảo; xây dựng thời gian biểu tự nghiên cứu;

 

Tiến hành tự nghiên cứu: tra cứu tài liệu, đọc hiểu tài liệu, ghi chép, tổng hợp nội dung tra cứu được, ghi nhớ có ý nghĩa, liên kết các kiến thức bằng sơ đồ, xác định được mối quan hệ giữa các kiến thức trong cùng học phần, giữa các học phần; khi tự nghiên cứu SV phải rèn luyện các hoạt động cơ bản của trí óc là: chú ý, ghi nhớ, tìm hiểu, suy nghĩ và tưởng tượng sáng tạo;

 

Phân tích đánh giá thông tin thu nhận được, cách sử dụng thông tin để hoàn thành sản phẩm của mình;

 

Trình bày sản phẩm ban đầu của mình thông qua hợp tác, trao đổi với bạn, với thầy;

 

Tự kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của bản thân; tự sửa sai, điều chỉnh kiến thức;

 

Tìm và giải thích mối liên hệ giữa nội dung kiến thức phát hiện được với nội dung kiến thức đó được trình bày trong chương trình học; hoặc vận dụng kiến thức đã biết để giải quyết những vấn đề liên quan đến nội dung chương trình, phương pháp dạy học.

 

  1. Về phía người dạy

 

Muốn giúp SV học tiếng Anh tốt hơn việc nâng cao khả năng tự học của SV được bồi dưỡng và phát triển, ngoài nhân tố nội lực của chính SV, còn có một nhân tố quan trọng từ sự hướng dẫn của GV.

 

Để làm tốt điều này, GV cần phải:

 

Giúp SV tạo động cơ và mục đích học tập bằng cách tìm hiểu nắm được đối tượng trò chuyện đặt câu hỏi kích thích để SV tìm hiểu cái hay của nghề nghiệp mình đang theo học, tạo cơ hội cho SV tìm hiểu thực tế, tiếp xúc với trường và học sinh.

 

Khi xây dựng đề cương chi tiết của môn học nên nêu rõ nội dung nào SV phải tự nghiên cứu, mục đích kiến thức cần đạt được, các tiêu chí và hình thức đánh giá sản phẩm tự nghiên cứu, giới thiệu giáo trình chính và tài liệu tham khảo cho nội dung tự nghiên cứu.

 

Khi bắt đầu dạy môn học nào đó, GV nên dành khoảng thời gian thích hợp hướng dẫn SV phương pháp tự học một cách khoa học: cách đọc hiểu tài liệu, cách phát hiện bản chất của vấn đề, cách ghi chép, cách tổng hợp thông tin thu được, cách ghi nhớ, giúp SV có sức chiến thắng những khó khăn (nhất là ở giai đoạn đầu), nhưng tránh làm cho SV có tư tưởng ỷ lại, dựa dẫm vào người khác;

 

Trợ giúp SV “gỡ nút” để tiếp tục tìm tòi, khám phá khi cần thiết như: giúp đỡ SV kém lấp lỗ hổng kiến thức, hướng dẫn SV khá giỏi đọc thêm tài liệu tham khảo; hướng dẫn SV tự kiểm tra, đánh giá kiến thức tự học của mình; tạo điều kiện tối thiểu về tài liệu cho SV, giới thiệu cho SV các phương tiện học tập...;

 

Làm trọng tài đối với những cuộc tranh luận về nội dung kiến thức nào đó của SV nhưng không được giải quyết vấn đề theo ý kiến chủ quan của thầy mà trên cơ sở những kiến thức của SV tìm được để giúp SV tự điều chỉnh kiến thức của mình.

 

Có kế hoạch tham gia đánh giá quá trình tự học của SV dưới nhiều hình thức: trao đổi, thảo luận, bài kiểm tra, tiểu luận, động cơ thái độ học tập… Phải xác định các tiêu chí đánh giá và phổ biến đến SV; sản phẩm của SV, GV phải có ý kiến nhận xét đánh giá và kịp thời trả sản phẩm cho SV để SV có thể tự điều chỉnh kiến thức;

 

Sử dụng nhiều hình thức hướng dẫn SV tự học: trực tiếp trên lớp, qua trò chuyện hay sử dụng công nghệ thông tin…;

 

Tổ chức các chuyên đề ngoại khóa, câu lạc bộ vận dụng kiến thức nhằm giải quyết những vấn đề có liên quan nội dung chương trình, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học.

 

Kết hợp hoạt động học tập, hoạt động nghiên cứu khoa học với thực tiễn cuộc sống, thực tiễn nghề nghiệp tương lai của SV như: tìm hiểu mối liên hệ giữa nội dung kiến thức ở đại học với nội dung kiến thức được trình bày ở các trường tiểu học và trung học cơ sở; hoặc vận dụng kiến thức để giải thích cách trình bày nội dung kiến thức đó ở những trường này.

 

  1. Kết luận

      Qua quá trình giảng dạy và một số bài kiểm tra của SV, tôi thấy rằng lỗi mà SV hay mắc phải nhất trong khi sử dụng cụm động từ tiếng Anh là việc nhầm lẫn về mặt ngữ nghĩa. Lỗi mà SV hay gặp phải thứ hai là việc sử dụng cụm động từ tối nghĩa và lỗi gặp ít nhất về mặt cú pháp.

 

                             

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. A.P Cowie và R mackin. (1987). Oxford Dictionary of phrasal verbs.
  2. Dân D. Ferris (2005), treatment of error in second language student writng michigan series on teaching Multilingual Writers, series editors: Diane Belcher and jun liu. USA: the university of Michigan press.
  3. John flower. (1991). Phrasal verb organizer with mini dictionary, editor jim mite hill. Internatiional journal of basic sciences and applied research.
  4. Thompson, A.J & and Martinet, A.V. (1986). A practical English Grammar Oxford. Oup.

​Vũ Thanh Hòa, Khoa Ngoại ngữ

BÌNH LUẬN

Họ tên (*)
Email (*)
Nội dung (*)

0 bình luận

Video Clip