Thứ bảy, 21/10/2017 | GMT+7
TIN VẮN
~ Chào mừng năm APEC Việt Nam 2017 ~~~ Năm APEC Việt Nam 2017: Tạo động lực mới, cùng vun đắp tương lai chung ~~~   ~~~    Nhiệt liệt chào mừng 100 năm cách mạng tháng mười Nga vĩ đại ~~~ Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa ~~~ Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam   ~~~   

Thông tin khoa học

Giới thiệu một số hoạt động trước khi đọc nhằm tăng hiệu quả khi dạy đọc - hiểu môn tiếng Anh

1.Vai trò của từ vựng và kiến thức về chủ đề bài đọc trong đọc hiểu tiếng Anh

Trong quá trình đọc hiểu tiếng Anh, có rất nhiều các yếu tố tác động đến việc hiểu của người đọc, như vốn từ vựng, vốn kiến thức về chủ đề của bài đọc, động cơ đọc, các kỹ thuật được sử dụng khi đọc.

1.1. Vai trò của từ vựng

Giảng dạy từ vựng trước khi đọc là rất cần thiết và quan trọng cho người học vì ngoài việc học đọc người học còn cần học từ vựng để mở rộng kiến thức ngôn ngữ của mình. Đặc biệt là với những đối tượng học ở bậc thấp. Theo kết quả của một số nghiên cứu, từ vựng là một trong số những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến việc hiểu nội dung của bài đọc (Nuttal, 1982, Langer, 1981). Ur (1996) đã chứng minh rằng người đọc hiểu tốt là người có vốn từ vựng phong phú. Vì thế việc dạy từ mới là cần thiết và quan trọng trong dạy đọc hiểu. Nếu từ vựng được dạy theo cách hiệu quả, việc đọc hiểu sẽ được nâng lên. Nhưng không phải chỉ có duy nhất từ vựng có tác động đến quá trình đọc hiểu.

1.2. Vai trò của kiến thức về chủ đề bài đọc

Vai trò của kiến thức về chủ đề bài đọc ảnh hưởng đến việc hiểu nội dung bài đọc đã được khẳng định bởi nhiều nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu chứng minh rằng nếu người đọc có vốn kiến thức về chủ đề của bài đọc họ có thể liên hệ với bài đọc và hiểu bài nhanh hơn, hiệu quả hơn so với những người đọc thếu kiến thức về chủ đề bài đọc (Gall, 1984). Khi có vốn hiểu biết này, người đọc không chỉ so sánh với nội dung của bài để hiểu nhanh hơn mà còn đoán được nghĩa của các từ mới một cách chính xác theo ngữ cảnh, theo cách này người đọc học được từ mới sẽ hiệu quả hơn, người có kiến thức về chủ đề bài đọc sẽ hiểu những từ không quen thuộc, không phổ biến nhanh và hiệu quả hơn những người khác (Anderson & Pearson, 1984).

Vì thế Gall, (1984) sau khi nghiên cứu đã khẳng định rằng người giáo viên (GV) nên bằng cách nào đó khơi gợi lại và cung cấp thêm những kiến thức có liên quan đến chủ đề bài đọc trước khi cho sinh viên (SV) đọc bài, đặc biệt là với những bài có chủ đề mới lạ với SV.   

2.Tầm quan trọng của các hoạt động trước khi đọc hiểu tiếng Anh

Trong cuộc sống, bất kỳ ai khi đọc, xem, nghe, viết cái gì họ đều biết mình sẽ làm gì. Trong học ngôn ngữ, SV sẽ học tốt hơn nếu họ được chuẩn bị trước. Sự chuẩn bị này được gọi là các hoạt động trước khi học. Trong phần dạy về kỹ năng đọc được gọi là các hoạt động trước khi đọc. Các hoạt động trước khi đọc này rất quan trọng bởi chúng giúp cho người học học tốt hơn (Carrel, 1988). Có nhiều loại hoạt động trước khi đọc, các hoạt động chuẩn bị cho SV về từ vựng, về cấu trúc, hay làm quen với chủ đề, ... mỗi loại hoạt động có những điểm mạnh riêng (Thompson, 1987). Các hoạt động trước khi đọc này chỉ ra cho người đọc phải làm gì. Hơn nữa chúng còn tạo nên lý do, động cơ cho người học đọc bài. Ngoài ra, chúng còn có tác dụng khơi gợi lại những gì người học đã biết và còn cung cấp thêm những kiến thức về chủ đề của bài đọc để người đọc nâng được hiệu quả của việc đọc (Carell, 1988) 

3. Các loại hoạt động trước khi đọc hiểu tiếng Anh

Bất kỳ ai là GV cũng đều biết rằng một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự thành công của quá trình dạy học là việc sử dụng phương pháp phù hợp cho mỗi bài dạy. Trong dạy phần đọc hiểu tiếng Anh có rất nhiều loại hoạt động trước khi đọc vì thế GV càng cần phải cân nhắc lựa chọn cho có hiệu quả nhất. Wallace (1992) đã chia thành ba nhóm chính: 1- cung cấp cho người học về từ vựng, ngữ pháp, và cấu trúc; 2- Giúp cho người học có thông tin về khái niệm hoặc văn hoá; 3- tập trung vào những gì người học đã biết. Sau đây là một số hoạt động trước khi đọc đã được chứng minh là có hiệu quả.

3.1. Giới thiệu từ mới và cấu trúc

Dạy từ mới và cấu trúc trước khi đọc là rất quan trọng bởi người học không những chỉ cần học đọc mà còn cần học kiến thức ngôn ngữ mới, đặc biệt là với SV ở trình dộ thấp.

Dạy từ mới thi không phải là dạy toàn bộ các từ mới mà chỉ dạy những từ khoá, chính yếu có ảnh hưởng tới việc hiểu bài đọc của người học. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc giới thiệu từ mới theo kiểu liệt kê từ, cung cấp nghĩa là cách không hiệu quả trong việc học từ cũng như tạo ra động lực cho người học học ngôn ngữ. GV nên sử dụng các kỹ thuật khác nhau để giới thiệu từ mới, có thể bằng hình ảnh, tình huống, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, hoặc đưa vào một câu đoạn ngữ cảnh để SV đoán nghĩa từ mới thì sẽ hiệu quả hơn cách truyền thống (Langer, 1981)

Cũng như vậy, dạy cấu trúc mới mà giới thiệu cấu trúc và giải thích ngay bằng ngôn ngữ mẹ đẻ cũng là cách không hiệu quả. Cấu trúc mới nên được giới thiệu theo bảng biểu, sơ đồ, đoạn văn, tình huống thì không những có hiệu quả mà còn tạo cho SV động cơ học tập (Harmer, 1987)

Trái ngược với quan điểm dạy từ mới và ngữ pháp cũng có quan điểm cho rằng từ mới và ngữ pháp có thể được học một cách dễ dàng thông qua quá trình đọc hiểu, không cần được dạy tách rời như một phần riêng rẽ (Nuttal, 1982)

3.2. Giới thiệu bài đọc

Trước khi đọc bài, GV giới thiệu cho SV thông tin tổng quát về nội dung bài đọc trong một đoạn giới thiệu ngắn. Đây là một cách hiệu quả nếu đoạn giới thiệu không quá dài, không nhiều thông tin về bài đọc, phù hợp với SV và phải thu hút sự tham gia của SV. Với việc giới thiệu bài đọc như vậy, người học có được định hướng, khơi gợi những thông tin cần thiết về chủ đề của bài đọc, các dữ liệu ngôn ngữ mới có thể được đưa ra ở phần này (Nuttal, 1982).

Như vậy, giới thiệu bài đọc là một cách hiệu quả giúp cho SV hiểu bài đọc bởi khi giới thiệu chung về bài đọc tạo động lực cho SV muốn đọc bài, và nhờ được giới thiệu SV đã được cung cấp một phần kiến thức về bài đọc.

Thực tế giảng dạy đọc hiểu kỹ thuật này thường xuyên được áp dụng. Tuy nghiên mới chỉ ở mức độ đưa ra định hướng của bài học chứ chưa đến mức giới thiệu các nội dung chính.

3.3. Đặt câu hỏi định hướng

Theo truyền thống các câu hỏi thường được sử dụng để kiểm tra sự hiểu của SV về bài đọc. Nhưng theo các nhà sư phạm gần đây cho rằng, câu hỏi còn được dùng để kích thích SV, để định hướng cho SV trước khi đọc. Trước khi đọc, GV có thể cho SV suy nghĩ trả lời từ một đến hai câu hỏi. Những câu hỏi này mang đến cho SV lý do để đọc, tập trung sự chú ý của SV vào những thông tin cần thiết, biết bỏ qua những thông tiên chi tiết không cần thiết trong lần đọc thứ nhất. Hoạt động này làm cho SV có sự trông chờ được kiểm chứng những dự đoán của mình trước khi đọc. Vì thế nó cung cấp động lực cho người đọc muốn đọc để kiểm chứng những gì mình biết, những gì đã dự đoán (Harmer, 1983;; Ur, 1996).

3.4. Đoán trước nội dung

Nuttal (1982) khẳng định rằng, trước khi đọc GV cho SV dự đoán nội dung bài đọc dựa trên các dữ liệu như tiêu đề, lời giới thiệu, sơ đồ, bảng biểu, tranh ảnh minh hoạ, bố cục của bài đọc, ...sẽ rất hữu dụng cho việc đọc hiểu bài đọc. Việc sử dụng những dữ liệu này là rất quan trọng và cần thiết.

Để khắc phục khó khăn về từ mới, SV có thể có nghĩa của từ mới bằng việc nghiên cứu câu văn có chứa từ mới, những câu văn xung quanh nó, sự lặp lại của từ để đoán ra nghĩa của từ mới. Áp dụng tương tự như vậy để học các cấu trúc câu mới thông qua bài đọc, xu hướng này được gọi là học theo hướng phân tích.

3.5. Thảo luận có định hướng

Theo xu hướng giao tiếp, thảo luận theo nhóm là một cách có hiệu quả và cần thiết trong việc gây hứng thú và rèn luyện kỹ năng đặc biệt là kỹ năng nói. Hoạt động thảo luận theo nhóm, cặp, hoặc với GV. Các hoạt động này được giao cho SV như là một hoạt động trước khi đọc. GV đưa cho SV một số câu hỏi hoặc nhiệm vụ thảo luận về bài đọc. Sau khi thảo luận, SV đọc bài để so sánh với những dự đoán từ việc thảo luận.

Thảo luận theo nhóm tỏ ra có rất nhiều ưu điểm, theo Dilon (1984) khi SV tham gia vào một cuộc thảo luận phù hợp, SV được phát triển về tư duy, có thêm động cơ học tập, khả năng giải quyết vấn đề được nâng lên, đặc biệt các thành viên của nhóm đều có được sự thoả mãn về cách giải quyết vấn đề.

Gall (1984) đưa ra bốn điểm mạnh của thảo luận nhóm: (1) tất cả các thành viên đều có cơ hội để  luyện tập, suy nghĩ về kiến thức của mình, đánh giá chất lượng và độ chính xác của phần thông tin mà mình biết; (2) định hướng  cho SV vào phần kiến thức quan trọng trong bài đọc; (3) sự tham gia vào thảo luận nhóm đưa lại cơ hội tập luyện và bước đầu hình thành cách làm việc sau này; (4) Nhịp độ làm việc theo nhóm giúp cho SV tăng cường tốc độ làm việc thực tế vì tốc độ trong thảo luận nhóm cao hơn tốc độ thực tế của các hoạt động khác. Tóm lại, thảo luận theo nhóm trước khi đọc là một biện pháp hữu hiệu trong việc tăng hiệu quả của quá trình đọc hiểu tiếng Anh.

4. Kết luận

Mặc dù mỗi hoạt động đều có những mặt mạnh và hạn chế, GV cần nghiên cứu để có được những biện pháp và phương pháp phù hợp với từng đối tượng SV và với từng nội dung cụ thể. Bên cạnh đó có thể kết hợp các hoạt động với nhau, việc kết hợp này giúp cải thiện bầu không khí tẻ nhạt ở các giờ học đọc hiểu tiếng Anh. Đây chính là một động cơ thúc đẩy SV học tích cực. Thông qua bài học đọc, SV được học và luyện tập các kỹ năng khác như nói, nghe, ...

Về phía giáo viên, qua các hoạt động tác động này sẽ biết được SV của mình đã biết gì và chưa biết điều gì, từ đó cung cấp những phần còn thiếu để giúp SV đọc bài hiệu quả hơn, có hướng điều chỉnh chỉnh về phương pháp, về nội dung kiến thức để nâng cao hiệu quả dạy học.

 

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Anderson, Reynols, Scharllert, Goetz, 1977. “A schema-theoretic view of basic processes in reading comprehension”. Trong Pearson, P.D. Handbook of reading reseach (1984). Longman
  2. Carrel, (1988). Some causes of text-boundedness and schema interference in ESL reading. Cambridge University Press.
  3. Dilon (1984). Research on questioning and discussion.
  4. Gall, M. (1984). Synthesis of research on teacher’s questioning. Educational Leadership.
  5. Harmer, j. (1983). The Practice of English Language.Hong Kong. Longman
  6. Langer, J. (1981). From theory to practice. A pre-reading plan. Journal of reading.
  7. Nutall, (1982). Teaching reading skills in a foreign language. Great Britain. Heineman.
  8. Thompson (1987). Learner in Stratergies language learning. Prentice Hall.
  9. Ur, P. (1996). A course in language teaching. Cambridge.
  10.  Wallace (1992). The use of authentic materials in the teaching of reading.

Vũ Thanh Hòa, Khoa Ngoại ngữ

BÌNH LUẬN

Họ tên (*)
Email (*)
Nội dung (*)

0 bình luận

Video Clip