Thứ năm, 19/07/2018 | GMT+7
TIN VẮN
~

Thông tin khoa học

Hướng dẫn sinh viên Mầm non tổ chức trò chơi đóng kịch cho trẻ mẫu giáo

Đóng kịch là một hoạt động nghệ thuật ở trường mầm non được trẻ em rất yêu thích, nó có ý nghĩa giáo dục toàn diện nhân cách trẻ. Trò chơi đóng kịch giúp trẻ tích lũy kinh nghiệm sống qua trải nghiệm các nhân vật trong tác phẩm, nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển ngôn ngữ và sự phát triển xúc cảm, tình cảm thẩm mỹ ở trẻ. Qua trò chơi đóng kịch, trẻ lĩnh hội đuợc ngôn ngữ giàu hình ảnh, học được giọng nói diễn cảm rõ ràng và trẻ hoàn thiện mình hơn về đạo đức, trẻ sẽ học ở đó lòng dũng cảm, tính trung thực, tình yêu quê hương đất nước,…

1. Vậy, thế nào là trò chơi đóng kịch: Trò chơi đóng kịch là trò chơi đóng vai theo tác phẩm văn học, nhờ trí tưởng tượng, sáng tạo và cảm xúc của mình trẻ tái hiện lại tính cách nhân vật trong các tác phẩm văn học.

2. Ý nghĩa của trò chơi đóng kịch

        Trò chơi đóng kịch là con đường giúp trẻ tiếp nhận tác phẩm văn học hiệu quả nhất. Qua đó, trẻ cảm nhận một cách sâu sắc tác phẩm văn học.

         Khi tham gia trò chơi đóng kịch trẻ được trải nghiệm đời sống tình cảm của các nhân vật, giúp trẻ hiểu được chân, thiện, mỹ... từ đó bồi dưỡng tình cảm hướng thiện và giáo dục lòng nhân ái cho trẻ.

Hình thành ở trẻ tâm hồn nghệ sĩ, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của trẻ.

       Đối với loại trò chơi này giúp trẻ nắm được nội dung tư tưởng của tác phẩm văn học, tính lôgic liên tục của sự phát triển, các sự kiện có tính chế ước nhân quả, những cái đó thúc đẩy trí nhớ, tưởng tượng, tư duy, xúc cảm, tình cảm… của trẻ. Do vậy các chức năng tâm lý của trẻ được phát triển.

        Khi chơi đóng kịch trẻ nói bằng ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm văn học (đặc biệt là nhân vật trong truyện: ngụ ngôn, cổ tích, thần thọai). Cung cấp cho trẻ những ngôn ngữ dân gian phong phú, đa dạng, lôi cuốn hấp dẫn trẻ.

        Trò chơi đóng kịch còn là phương tiện giáo dục đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ đồng thời còn là phương tiện phát triển ngôn ngữ nói diễn cảm và ngôn ngữ câm: Điệu bộ, cử chỉ, ánh mắt, giọng nói. Hơn thế nữa nó là phương tiện làm quen với nghệ thuật đó là kịch nói.

3. Đặc điểm trò chơi đóng kịch của trẻ mẫu giáo

         * Là loại trò chơi có chủ đề, vai chơi nhưng nội dung chơi, hành động chơi, vai chơi được xác định trước trong tác phẩm chứ không do trẻ nghĩ ra.

* Là loại trò chơi mang tính nghệ thuật tuy nhiên nó chỉ là trò chơi. Yếu tố nghệ thuật và yếu tố chơi kết hợp chặt chẽ với nhau trong nội dung chơi cũng như quá trình tổ chức trò chơi.

4. Biện pháp hướng dẫn sinh viên tổ chức trò chơi đóng kịch

4.1. Hướng dẫn sinh viên chuẩn bị tốt trước khi tổ chức cho trẻ chơi

      Để tổ chức tốt trò chơi đóng kịch, SV cần chuẩn bị các yếu tố: Lựa chọn tác phẩm văn học, chuyển thể thành kịch bản; Rèn kỹ năng cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học, Rèn cho trẻ kỹ năng thể hiện ngôn ngữ, hành động nhân vật.

4.1.1. Cách lựa chọn tác phẩm văn học, chuyển thể thành kịch bản

* Lựa chọn tác phẩm văn học

          Để tổ chức trò chơi đóng kịch có hiệu quả cho trẻ mẫu giáo thì công việc lựa chọn tác phẩm văn học phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, hứng thú của trẻ là rất quan trọng. Kết quả của trò chơi đóng kịch phụ thuộc vào việc lựa chọn tác phẩm văn học. Trước hết, tác phẩm văn học lựa chọn để tổ chức trò chơi đóng kịch phải là tác phẩm có ý nghĩa giáo dục nhân cách trẻ, đáp ứng được yêu cầu giáo dục: giáo dục tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia đình, cách đối nhân xử thế… tính cách của các nhân vật phải được thể hiện rõ ràng, phù hợp. Nội dung các tác phẩm phải phù hợp với chủ đề, chủ điểm.

         Các tác phẩm lựa chọn cần có nhiều tình tiết hấp dẫn đối với trẻ và hình thức đối thoại là chủ yếu. SV có thể chọn những câu truyện dân gian, đặc biệt là truyện cổ tích như: Tấm Cám, Cây Khế, Ba cô gái, Tích chu, Cáo, thỏ và gà trống…. những câu truyện cổ tích này mang đầy đủ phẩm chất của kịch bản. Trong truyện có mâu thuẫn kịch tính, có sự cọ sát tính cách, có những tình huống gai góc và chứa đầy xúc cảm; hội thoại ngắn gọn diễn cảm, ngôn ngữ đơn giản, giàu hình ảnh cũng như các sự kiện diễn ra nhanh chóng.

       Ngoài ra, SV cũng có thể sưu tầm những truyện dành cho trẻ mầm non ngoài chương trình, để chuyển thể sang kịch bản cho trẻ không nhàm chán.

* Chuyển thể kịch bản

        Là quá trình chuyển thể tác phẩm từ truyện kể sang kịch bản, đây là công việc hết sức quan trọng, đòi hỏi sinh viên phải thực sự hiểu sâu sắc tác phẩm, tính cách của từng nhân vật trong tác phẩm. Chủ động trong việc sáng tạo hay bổ sung thêm những tình tiết, sự kiện vào trong kịch bản để tạo nên sự hấp dẫn, lôi cuốn mà không làm thay đổi nội dung cốt truyện. Tuy nhiên để xây dựng được một kịch bản đáp ứng đầy đủ yêu cầu về nội dung và nghệ thuật cần đảm bảo tuân thủ các yêu cầu sau đây:

         Xác định nhân vật: SV cần xác định rõ số lượng nhân vật trong một tác phẩm, quá trình phát triển tâm lý, tính cách rõ nét của mỗi nhân vật sao cho phù hợp và làm nổi bật được nội dung tác phẩm. Ví dụ: Truyện “Quả bầu tiên” có 3 nhân vật chính: Cậu bé hiền lành - tốt bụng, yêu quý chăm sóc bảo vệ các loài vật. Lão địa chủ: Tham lam, độc ác. Con chim Én hiền lành, dễ thương.

         Trong các vở kịch, tính cách của các nhân vật được bộc lộ qua hành động và ngôn ngữ trong đó bao gồm cả ngôn ngữ độc thoại và ngôn ngữ đối thoại.

        Ngôn ngữ độc thoại trong kịch bản thường là những lời giới thiệu, lời dẫn  trong truyện kể, đòi hỏi sinh viên phải khéo léo đưa những lời giới thiệu, lời dẫn đó trở thành lời nói của nhân vật cùng với thái độ - cử chỉ - hành động để giúp cho người nghe, người xem có thể hiểu được diễn biến của vở kịch - kịch bản. Ví dụ: Trong truyện “Chú dê Đen” kể có đoạn mở đầu “Có một chú dê Trắng đi vào từng để kiếm lá non ăn và nước suối mát để uống” nhưng khi chuyển thể sang kịch bản học sinh – sinh viên có thể chuyển thành lời của nhân vật dê Trắng: “Ôi mùa xuân thật là đẹp, mình phải đi vào rừng để kiếm lá non ăn và nước suối mát để uống thôi”. Độc thoại trong kịch bản cũng có thể là những lời giao đãi giữa nhân vật với khán giả như trong truyện “Cây tre trăm đốt” có thêm đoạn anh nông dân nói với khán giả: “Bà con ơi! Bà con làm chứng cho tôi nhé, lão nhà giàu đã hứa gả con gái cho tôi rồi đấy…”. Khi lời giao đãi được đưa vào trong kịch bản thì cả diễn viên và khán giả đều cảm thấy rất hào hứng, thích thú và bị cuốn hút vào diễn biến của vở kịch.

          Ngôn ngữ đối thoại: Đối thoại là quá trình giao tiếp của hai hay nhiều nhân vật với nhau được phối hợp với cử chỉ - hành động. Với trẻ mẫu giáo chưa phát triển đạt đến mức hoàn thiện nên khi chuyển thể kịch bản SV cần chú ý đến ngôn ngữ nhân vật. Lời thoại phải ngắn gọn, dễ hiểu để diễn đạt đủ câu, đủ ý, giàu hình ảnh, đảm bảo lời hay ý đẹp. Tránh những câu nói dài dòng, những câu hỏi ép mớm, không phát huy được tính chủ động sáng tạo, phát triển ngôn ngữ mạch lạc của trẻ.

         Trong khi chuyển thể thành kịch bản SV có thể thêm hoặc bớt tình tiết và nhân vật nhưng vẫn đảm bảo nội dung trọng tâm của kịch bản. Một vở kịch có thể có từ 3 - 4 nhân vật chính, nếu quá ít nhân vật thì tẻ nhạt nhưng quá trình nhiều thì vở kịch trở nên lộn xộn, không trọng tâm làm phân tán sự chú ý của trẻ. Ví dụ: Trong truyện “Chú dê Đen”, vì truyện chỉ có 3 nhân vật nên SV cũng có thể cho thêm nhân vật Thỏ trắng xuất hiện ở đầu truyện cùng dê Đen và dê Trắng đi kiếm ăn, ở cuối truyện cùng Dê đen và Dê trắng đánh lại chó Sói.

         Hay trong truyện Tấm Cám có những chi tiết thể hiện sự độc ác của mẹ con Cám: Trút bớt tôm tép - Giết cá bống - Trộn gạo vào thóc… Vì truyện rất dài nên khi xây dựng kịch bản SV có thể bỏ đi một số chi tiết, điều đó cũng không ảnh hưởng đến diễn biến - nội dung của kịch bản. Bỏ 1 trong 3 chi tiết thì mẹ con Cám vẫn độc ác và Tấm vẫn chăm chỉ đến nhẫn nhục.

         Trong quá trình xây dựng kịch bản, sinh viên cần chú ý đến tính kịch. Nếu vở kịch không có tính kịch thì không hấp dẫn đối với người xem, nhưng đối với truyện kể dành cho trẻ mầm non không phải truyện nào cũng có tính kịch. Vì vậy SV cần phải sử dụng hình thức cài kịch, giữ kịch để vở diễn thêm phần sinh động và lôi cuốn hơn. Ví dụ: Trong kịch bản “Ba chú heo con”. Đoạn chó Sói chui vào ống khói, 3 chú heo con đang đun nước sôi, hun khói để lừa giết chó Sói. Không nên để chó Sói rơi liền xuống nồi nước sôi mà để chó Sói chạy ngược lên ống khói rồi lại rơi xuống kêu la, rãy rụa, van xin. Mục đích là để cuốn hút sự chú ý của trẻ. Tạo nên niềm hưng phấn, sự thích thú, thoả mãn khi chó Sói độc ác, ranh mãnh bị trừng phạt.

        Ngoài ra SV cần biết: Đối với phần kết sau những diễn biến sự kiện xảy ra thì tất cả cuối cùng đều được giải quyết theo luật nhân quả: Ở hiền gặp lành, chính nhân sẽ thắng, báo ân trả oán. Ví dụ: Lão địa chủ trong truyện “Quả bầu tiên” sẽ không chết mà được cứu sống và tỏ ra ân hận và lấy của cải chia hết cho người nghèo. Dê Trắng không bị chó Sói ăn thịt mà được dê Đen cứu thoát… Cô Cả và cô Hai sau khi biến thành con nhện tỏ ra ân hận, hối cải, được trở lại thành người biết yêu thương, chăm sóc mẹ già (Ba cô gái).

          Tóm lại: Sau khi đã lựa chọn được tác phẩm phù hợp với yêu cầu, để chuyển thể từ truyện sang kịch bản, SV cần linh hoạt, sáng tạo thêm hoặc bớt các tình tiết để tạo sự hấp dẫn cho trò chơi.

4.1.2. Rèn kỹ năng cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học

* Đọc, kể tác phẩm văn học sẽ đóng kịch cho trẻ nghe

       Muốn cho trẻ nhập vai tốt trong khi chơi trò chơi đóng kịch, sau khi đã lựa chọn tác phẩm văn học phù hợp với trẻ, SV phải tổ chức cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học mà trẻ sẽ đóng kịch. Trẻ mẫu giáo chưa thể tự đọc được truyện, quá trình cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học cần phải đa dạng, sinh động  bằng cách SV đọc, kể tác phẩm văn học một cách diễn cảm cho trẻ nghe nhiều lần, giúp trẻ cảm nhận và hiểu nội dung tư tưởng của tác phẩm, hiểu phẩm chất, tính cách của các nhân vật.

           SV đọc hoặc kể cho cả lớp nghe toàn bộ truyện một cách nghệ thuật. Có nghĩa là SV sử dụng sắc thái giọng kể của mình để trình bày tác phẩm và thể hiện trọn vẹn nội dung tư tưởng phong cách nghệ thuật của tác phẩm, giúp trẻ tái tạo lại bằng hình ảnh, những cái đã nghe được, gợi lên những cảm xúc tình cảm ở trẻ. Các thủ thuật chính của đọc và kể diễn cảm là: Xác định và sử dụng đúng giọng điệu cơ bản, ngữ điệu, ngắt giọng, nhịp điệu, cường độ âm thanh ngôn ngữ của mình. Trên nền của giọng điệu cơ bản SV còn phải sử dụng các sắc thái khác nhau tùy vào diễn biến nội dung của tác phẩm.

        Để tăng phần hiệu quả của kể và đọc diễn cảm, SV cần chú ý đến nết mặt cử chỉ, tư thế của mình sao cho phù hợp với diễn biến của tác phẩm. Việc đọc và kể diễn cảm tác phẩm giúp trẻ càng hiểu và trải nghiệm sâu sắc tác phẩm thì càng phản ánh đúng đắn chính xác vào trong trò chơi của mình. Cảm nhận sâu sắc tác phẩm văn học là một trong những điều kiện để diễn kịch thành công, vì trong khi lắng nghe tác phẩm văn học, trẻ đã có những cảm xúc, tình cảm, trạng thái nhất định và thể hiện chúng một cách công khai. Những xúc cảm tình này sẽ là cơ sở để trẻ hiểu tác phẩm và thể hiện thái độ đối với những sự kiện và nhân vật trong tác phẩm, trẻ sẽ đánh giá đúng đắn nhân vật trong truyện và trẻ sẽ hình dung cần phải làm gì trong tình huống ấy. Ví dụ: Khi nghe truyện“Cáo, thỏ và gà trống” qua lời đọc, kể diễn cảm của SV, trẻ có thể hình dung được: Gà trống khi đi lại nhấc cao chân, khi hát thì như tiếng chuông kêu và tự tin. Trẻ sẽ nhận xét đúng một số tính cách của gà trống: dũng cảm, hiền từ, dễ mến còn Thỏ thì thật thà, yếu đuối…

* Cho trẻ xem tranh minh hoạ kết hợp đàm thoại về tác phẩm văn học

         Để hình thành và khắc sâu những biểu tượng của trẻ, SV nên cho trẻ xem tranh minh hoạ và cho trẻ mô tả lại các nhân vật của tác phẩm, nhận xét những đặc trưng, tính cách của nhân vật như màu sắc, quần áo… và tư thế của từng nhân vật. Đối với việc tổ chức đóng kịch theo tác phẩm văn học, việc xem chi tiết tranh minh hoạ và đàm thoại về tác phẩm văn học, sau khi đã nghe SV đọc - kể có một ý nghĩa đặc biệt. Nếu việc xem tranh minh hoạ trước khi đọc - kể có tính chất tổng quát (làm quen với hình thức của các nhân vật), thì việc xem minh hoạ sau khi đọc – kể có nhiệm vụ sâu sắc hơn. Lúc này việc xem tranh là một trong những biện pháp làm hình thành ở trẻ những biểu tượng chính xác hơn về các nhân vật trong truyện. Hình dáng, tính cách quan hệ của các nhân vật được phản ánh trong tư thế, nét mặt, hành động trong từng hoàn cảnh cụ thể.

       Ví dụ: Khi cho trẻ xem tranh minh hoạ truyện sẽ đóng kịch “Chú dê Đen”, SV cần chuẩn bị một bộ tranh minh hoạ, gồm 3 tranh :

       Tranh 1: Dê Trắng đang ăn lá non trên một cánh rừng có dòng suối chảy qua và một con chó Sói nấp sau bụi cây.

        Tranh 2: Dê Đen đang ăn lá non trên một cánh rừng có dòng suối chảy qua và một con chó Sói nấp sau bụi cây.

       Tranh 3: Cảnh núi rừng, suối chảy, cây cối tươi tốt có các chú dê đang ăn lá non.

       Lần lượt cho trẻ xem tranh và đàm thoại theo nội dung trong tranh minh hoạ, nhấn mạnh các chi tiết cần cho việc đóng kịch như: Bản chất của dê Trắng là yếu đuối nhút nhát nên khi lên núi ăn lá non chưa gặp chó Sói thì nhí nhảnh, hồn nhiên nhưng khi gặp chó Sói thì run rẩy sợ hãi, giọng nói, nét mặt, tư thế đều thể hiện vẻ sợ hãi. Còn bản chất của dê Đen là mạnh mẽ dũng cảm, khi lên núi tìm lá non những bước đi mạnh mẽ nên khi gặp chó Sói, dê Đen vẫn bình tĩnh đối đáp với chó Sói: Giọng rắn rỏi, dứt khoát, bước đi mạnh mẽ….

       Khi cho trẻ xem tranh minh hoạ, SV cần biết kết hợp đặt ra những câu hỏi đàm thoại để giúp trẻ hiểu thấu đáo những cá tính và sự kiện mà tác giả dựng nên, tạo điều kiện cho trẻ hình dung được bối cảnh phát triển tình tiết. Ví dụ: Trong khi xem tranh minh hoạ câu truyện “Chú dê Đen”, SV nên đặt các câu hỏi: “Bức tranh có những nhân vật nào? Dê Trắng và dê Đen đang làm gì? Tính cách của dê Trắng và dê Đen như thế nào? Vì sao? Tư thế, hành động của dê Trắng và dê Đen như thế nào? Vì sao? Chú dê Đen và dê Trắng đã gặp chó Sói ở đâu? Thái độ của chó Sói khi gặp dê Trắng thế nào? Vì sao? Thái độ của chó Sói khi gặp dê Đen thế nào? Vì sao?...”. Hệ thống câu hỏi này sẽ giúp trẻ hiểu chính xác, đúng đắn tính cách của các nhân vật trong tác phẩm và tạo ra được mối quan hệ giữa biểu tượng và nội dung.

       Hoặc cũng có thể cho trẻ xem qua đĩa truyện đã được chuyển thể thành kịch bản một lần, để trẻ cảm nhận được cách thể hiện vai diễn của các nhân vật.

         Tóm lại: Việc SV đọc, kể tác phẩm văn học và việc SV cho trẻ xem chi tiết các bức tranh minh hoạ kết hợp đàm thoại sẽ giúp trẻ hình thành được những biểu tượng cụ thể về tính cách nhân vật, về hành động và quan hệ giữa chúng,  khi đóng kịch trẻ sẽ tự xây dựng được hình tượng phù hợp với nội tác phẩm văn học. Việc SV cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học sẽ gây được ở trẻ những xúc cảm tương ứng, việc biểu diễn trong trò chơi đóng kịch của trẻ sẽ chân thực, giọng nói có sức diễn cảm, hấp dẫn… những tình cảm ấy sẽ giúp trẻ biểu lộ trong những động tác khéo léo khi lên sân khấu trò chơi.

4.1.3. Rèn cho trẻ kỹ năng thể hiện ngôn ngữ, hành động nhân vật

         Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo đã có thể nắm được các cấu trúc với những từ mới, từ khó trong tác phẩm một cách rõ ràng. Tuy vậy SV không thể đòi hỏi cao ở khả năng diễn xuất ở trẻ mà chỉ dừng lại ở mức độ giúp trẻ thể hiện hợp lý giữa ngôn ngữ và cử chỉ điệu bộ, biết phối hợp lời nói, cử chỉ của cá nhân với lời nói cử chỉ của các nhân vật khác một cách chủ động, đúng lúc, đúng chỗ. Muốn giúp trẻ nắm được vai diễn của mình, SV cần giúp trẻ hiểu về tác phẩm, hiểu về vai mình đóng, đồng thời SV cần cho trẻ luyện tập vai diễn của mình khi diễn trước tập thể. Đối với những đoạn nhân vật thể hiện ngôn ngữ độc thoại hay đối thoại, tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của nhân vật mà SV giúp trẻ thể hiện sao cho phù hợp với diễn biến của vở kịch, tính cách của nhân vật. Ngôn ngữ của nhân vật phải ngắn gọn - đủ ý - dễ hiểu, truyền tải đầy đủ nội dung cần thể hiện. SV cần yêu cầu câu đối thoại của trẻ phải có đầy đủ chủ ngữ - vị ngữ rõ ràng mạch lạc. Cần loại bỏ những từ: Mày - tao - mi… thay vào đó những câu phù hợp mà không làm thay đổi ngữ điệu giọng và tính cách nhân vật. Ví dụ: Trong truyện“Chú dê Đen” có đoạn đối thoại giữa dê Trắng - Chó Sói - dê Đen. Chó Sói: “Dê kia, mày đi đâu? Chuyển thành: Dê kia - Đi đâu? Dê Trắng: Tôi đi tìm lá non để ăn và nước suối mát để uống. Chó sói: Ha ha… Vậy à? Trên đầu mày có gì? -> Trên đầu ngươi có gì?…”

       SV cần chú ý sửa cho những trẻ nói nhanh, nói lắp, nói ngọng, tiếng địa phương… Trong quá trình các nhân vật đối thoại với nhau mà mắc những lỗi này sẽ làm cho người xem không hiểu được nội dung đoạn hội thoại làm cho vở kịch kém hấp dẫn.

      Trong khi hướng dẫn trẻ đóng kịch, SV cần chú ý luyện cho trẻ cách thể hiện ngữ điệu, giọng của nhân vật. Xác định rõ đặc điểm - tính cách của từng nhân vật mà giúp trẻ thể hiện sao cho phù hợp. Giọng nhân vật bà già khi ốm (Tích Chu, Ba cô gái): Chậm rãi - nhỏ - yếu ớt - ho – rên; Giọng dê Trắng: Run rẩy, sợ sệt; Giọng dê Đen: To - dứt khoát - rõ ràng… (Chú dê Đen); Giọng Thỏ mẹ: Ân cần - dịu dàng - ấm áp, giọng Thỏ em: Nhanh - nhí nhảnh - hồn nhiên, giọng Thỏ anh: Chậm - Khoan thai (Ai đáng khen nhiều hơn).

         Ngoài ra SV cần chú ý đến những từ cần nhấn mạnh trong các câu nói của nhân vật. Ví dụ: Câu nói của lão địa chủ trong truyện Quả bầu tiên, đoạn thả én con lên trời: “Bay đi én con, mau kiếm hạt bầu tiên về đây cho ta” (thể hiện sự độc ác, tham lam của lão địa chủ). Câu nói của chó Sói trong truyện Chú dê Đen: “À ta nhớ ra rồi, ha ha… ở đoạn đường này họ hàng nhà Dê thường hay qua lại…”.

           Đi liền với ngôn ngữ là cử chỉ - điệu bộ - nét mặt… đóng vai trò hết sức quan trọng làm nổi bật tính cách nhân vật, tạo nên sự sinh động, hấp dẫn của vở kịch. Ví dụ: Đoạn dê Đen đi tìm dê Trắng: Mặt lo âu, hốt hoảng, điệu bộ vừa đi vừa chạy, ngó nghiêng tìm kiếm, giọng nói to, nhanh thể hiện sự lo lắng: “Dê Trắng ơi! Bạn ở đâu? Các bạn ơi, có nhìn thấy dê Trắng ở đâu không?”. Hoặc đoạn lão địa chủ trong truyện: “Cây tre trăm đốt” bị dính vào cây tre, mặt méo xệch, thở hổn hển, hai tay chắp vái, chân quỳ gối, giọng hốt hoảng van xin…

          Đối với cách di chuyển của các nhân vật trên sân khấu, SV cũng cần chú ý để hướng dẫn trẻ: Các nhân vật khi xuất hiện thì không nên đứng lâu một chỗ mà phải di chuyển phối hợp với ngôn ngữ, cử chỉ điệu bộ sao cho hợp lý; các nhân vật khi giao tiếp với nhau thì luôn vận động, đổi chỗ cho nhau hoặc chuyển vị trí này sang vị trí khác. Khi giao tiếp phải nhìn vào mặt nhau, có người nói người nghe, không cướp lời của nhau, thường xuyên giao lưu với khán giả.

4.1.4. Chuẩn bị một số yếu tố phụ trợ

        Để tăng sự hấp dẫn của trò chơi, SV cần chuẩn bị một số yếu tố phụ trợ vì trò chơi đóng kịch theo tác phẩm văn học không đơn thuần chỉ là trò chơi mà còn là nghệ thuật kịch vừa mang tính thực vừa mang tính chất chơi. Vì vậy, sân khấu và hoá trang là những điều kiện không thể thiếu trong trò chơi đóng kịch, chúng làm cho cuộc chơi thêm phần hấp dẫn, làm tăng thêm cảm xúc chân thực của trẻ khi thể hiện vai, thành công của vở diễn phụ thuộc không nhỏ vào hóa trang và sân khấu.

         SV cần phải chuẩn bị một số yếu tố cần thiết để giúp cho vở kịch hay hơn, sinh động hơn và đạt tới đỉnh cao của sự hoàn thiện đó là:

       Sân khấu: SV có thể làm đơn giản gồm một màn kéo căng trên một sợi dây, kích thước này phụ thuộc vào không gian cho trẻ chơi rộng hay hẹp. Tuy nhiên nếu có điều kiện SV có thể làm sân khấu phức tạp hơn, bằng gỗ.

       Hóa trang: SV có thể dùng bút, son, phấn để hoá trang khuôn mặt trẻ cho thích hợp với vai trẻ đóng, nổi bật đặc điểm bên ngoài và tính cách của nhân vật.

       Trang phục: SV cần chuẩn bị trang phục cho trẻ sao cho phù hợp với đặc điểm tính cách của từng nhân vật. Tuy nhiên không nên quá cầu kỳ hoặc chú trọng quá vào trang phục. Đối với những vở kịch biểu diễn trong tiết học, trong các hoạt động góc, sinh hoạt chiều… SV chỉ cần chuẩn bị những trang phục đơn giản như mũ múa hoặc những đồ dùng mang tính chất tượng trưng. Chỉ khi biểu diễn trong các cuộc thi, các ngày lễ hội thì  SV cần chuẩn bị trang phục đầy đủ, phù hợp với từng nhân vật: Mũ múa - mặt nạ, hình nộm…

        Cảnh trí: SV không nên trang trí quá lòe loẹt, rườm rà. Chỉ trong các hoạt động lễ hội lớn cảnh trí mới cần giống như thật: Cây, núi, nhà… còn trong giờ học và các hoạt động khác thì SV chỉ cần chuẩn bị miếng xốp cũng là tảng đá, bảng đứng cũng có thể là ngôi nhà, chỉ cần trẻ yêu và ham thích hoạt động đóng kịch thì tất cả trong trí tưởng tượng của trẻ đều giống thật.

        Âm thanh: Âm thanh được sử dụng trong quá trình trẻ diễn kịch cũng đem lại sự sinh động, cuốn hút đối với diễn viên cũng như khán giả. Vì vậy SV có thể chuẩn bị nhạc đệm hoặc một bài hát, tiếng gà gáy, tiếng nước chảy róc rách… tất cả đều thật là hấp dẫn khi được sử dụng trong quá trình trẻ diễn xuất.

       Ngoài ra SV cần chuẩn bị thêm đạo cụ, đồ dùng cần thiết cho các vở kịch: Cuốc, hái, đao…. làm bằng bìa cứng để thuận lợi cho trẻ hoạt động.

4.2. Hướng dẫn sinh viên cách tổ chức cho trẻ chơi đóng kịch

       Để tổ chức tốt trò chơi đóng kịch, SV cần: Giúp trẻ nhập vai chơi và luyện tập đóng vai, Tổ chức cho trẻ biểu diễn kịch bản

4.2.1.  Giúp trẻ nhập vai chơi và luyện tập đóng vai

                              SV sẽ phân vai cho từng trẻ, giúp trẻ tìm hiểu sâu sắc hơn nhân vật mình sẽ đóng vai. Có thể cho nhiều trẻ đóng cùng một vai tùy vào các lần diễn. SV  cho trẻ ghi nhớ ngôn ngữ bằng cách đọc đồng thanh lời đối thoại của các nhân vật theo kịch bản. Sau đó cho từng trẻ nhắc lại lời thoại của các vai diễn đã được phân theo tiến trình của kịch bản, rồi đổi vai đối thoại giữa các trẻ. Điều này giúp trẻ ghi nhớ được ngôn ngữ truyện theo kịch bản và có thể đóng được các vai diễn khác nhau.

                            SV giúp trẻ biểu hiện nhân vật vai mình đóng, bằng cách lần lượt cho từng nhóm trẻ tập phối hợp giữa lời nói và cử chỉ, điệu bộ của các vai diễn. Trẻ được tự thể hiện các hành động, cử chỉ điệu bộ của các nhân vật trong truyện theo trí tưởng tượng của mình. SV cần khơi dậy trí tưởng tượng của trẻ, hướng cách suy nghĩ của trẻ vào sự tìm kiếm những phương tiện để thể hiện cảm xúc của các nhân vật trong tác phẩm. SV cần giúp trẻ biết phối hợp giữa các vai diễn trong hành động cũng như trong lời thoại tạo điều kiện cho trẻ nhận xét lẫn nhau trong việc nhập vai của tác phẩm. SV nhận xét, bổ xung kịp thời những gì trẻ thể hiện chưa đạt và có thể làm mẫu cho trẻ xem, sau đó cho trẻ luyện tập theo nhóm dưới sự quan sát và điều khiển của mình.

                              Trong quá trình luyện tập cho trẻ nhập vai, SV là người nhắc nhở, người dẫn truyện và là người đạo diễn. Sự tham gia trực tiếp của SV hoạt động cùng trẻ sẽ làm cho vở kịch có tính chất nhất quán, liền mạch. Khi trẻ đã thuộc các vai thì SV cho trẻ tự biểu diễn để trẻ thể hiện được khả năng của chính mình.

4.2.2. Tổ chức cho trẻ biểu diễn kịch bản

                            Biểu diễn là khâu quan trọng của trò chơi đóng kịch, là kết quả của quá trình tập luyện, chuẩn bị. Tổ chức buổi biểu diễn thực chất là tổ chức cuộc chơi cho trẻ, nhưng cuộc chơi này mang tính nghệ thuật, đây chính là tạo dựng lại một mảng cuộc sống trong sinh hoạt văn hóa, đó là xem kịch và diễn kịch xong đây chỉ là trò chơi nên cần cho tất cả mọi trẻ được tham gia. Buổi biểu diễn đầu, SV nên chọn những cháu đóng vai đạt nhất, sau đó cần luân phiên các nhóm khác vào buổi diễn tiếp theo, có thể đặt tên cho đoàn kịch và có người giới thiệu (là SV hoặc trẻ).

         SV nên phân công các thành viên còn lại theo chức năng: Trẻ nào trang trí sân khấu, thay cảnh khi cần thiết; Trẻ nào sắp xếp ghế cho khán giả ngồi xem, giữ trật tự và hướng dẫn người xem ngồi đúng chỗ; Trẻ nào bán vé và kiểm soát vé… Song thành phần đông đảo nhất vẫn là người xem, SV cần hướng dẫn người xem làm đúng một số “thủ tục” như: mua vé, đưa vé cho người soát vé kiểm tra, ngồi đúng chỗ theo hướng dẫn, khi xem không nói chuyện ồn ào…                             

        SV cho từng nhóm trẻ thể hiện các vai diễn của mình qua các màn biểu diễn, SV cần giúp trẻ biết phối hợp giữa vai mình và bạn diễn sao cho thật ăn khớp để tạo nên một vở kịch thật hài hoà, hấp dẫn.

        Trong khi xem kịch, SV cần biết nhắc “khán giả” nên biết tán thưởng bằng những tràng vỗ tay hay những đóa hoa tặng cho “diễn viên”, thậm chí còn có thể giao lưu nói chuyện, hát múa giữa người diễn và người xem, làm cho không khí trở nên sôi động. Như vậy qua trò chơi đóng kịch, SV không chỉ giúp trẻ học được cách đóng kịch mà còn học được cách xem kịch như thế nào cho có văn hóa.

        Sau khi chơi, SV nên tổ chức trao đổi, thảo luận chất lượng của các vai diễn, từ đó rút ra kinh nghiệm trong nhóm chơi với nhau. Thỉnh thoảng SV cần cho trẻ ôn lại những vở kịch cũ đã dựng để không bị nhàm chán, việc này còn giúp trẻ nhớ lâu tác phẩm, nâng cao hơn kỹ năng biểu diễn trên sân khấu.

 

 

 

 

 

 

       Việc sử dụng trò chơi đóng kịch trong tổ chức các hoạt động cho trẻ mẫu giáo cần được thực hiện một cách linh hoạt, sáng tạo phù hợp với từng chủ điểm, từng hoạt động; tránh rập khuôn máy móc, sao chép một cách công thức dẫn tới sự nhàm chán cho trẻ, phản tác dụng. Nó không quá khó chỉ cần mỗi học sinh – sinh viên dành thời gian đầu tư kịch bản, đồ dùng, dụng cụ, luyện tập cho trẻ trước khi tổ chức trò chơi.

        Tổ chức trò chơi đóng kịch cho trẻ mẫu giáo là hoạt động thiết thực, nó đòi hỏi ở mỗi sinh viên và giáo viên mầm non cần ý thức, thấy được tầm quan trọng của trò chơi đóng kịch đối với trẻ mẫu giáo: “Chơi mà học, học bằng chơi” để vận dụng cho phù hợp trong hoạt động cho trẻ làm quen với văn học cũng như trong hoạt động vui chơi hàng ngày.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đinh Văn Vang - Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mầm non (Dành cho hệ CĐSP mầm non). NXB GDVN 2009.

2. Đào Thanh Âm (CB) - Giáo dục học mầm non. NXB ĐHSP 2005.

3. Lã Thị Bắc Lý, Lê Thị Ánh Tuyết - Phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học. NXBGD 2008.

4. Hà Nguyễn Kim Giang - Phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học. NXBGD 2008.

5. Bộ giáo dục và đào tạo - Vụ giáo dục mầm non. “Hướng dẫn thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ” (các độ tuổi). NXBGD 2006.

6. Nguyễn Ánh Tuyết (chủ biên ) - Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học sư phạm Hà Nội, 2008.

Th.s Nguyễn Minh Huệ

BÌNH LUẬN

Họ tên (*)
Email (*)
Nội dung (*)

0 bình luận

Video Clip