Thứ bảy, 21/04/2018 | GMT+7
TIN VẮN
~ ~ Chào mừng Năm Du lịch Quốc gia 2018 - Hạ Long - Quảng Ninh ~ Nhiệt liệt chào mừng kỷ niệm 43 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2018) ~ Nhiệt liệt chào mừng 132 năm ngày Quốc tế lao động (1/5/1886 - 1/5/2018) ~ Hạ Long - Quảng Ninh, điểm đến an toàn, mến khách và thân thiện ~   ~~~   

Thông tin khoa học

Một số yếu tố ảnh hưởng đến phát triển trí tuệ của trẻ 4 – 5 tuổi thông qua trắc nghiệm vẽ hình của F. Good Enough

Để thực hiện được nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục cho trẻ mầm non có kết quả cao, những người làm công tác giáo dục cần phải biết được mức độ phát triển trí tuệ của trẻ. Trong thực tế ở tuổi mầm non, đã có nhiều trẻ bộc lộ sự phát triển ở mức độ cao rất sớm. Song cũng có trẻ, khi học không theo kịp hoặc khó thích ứng với nội dung chương trình, so với yêu cầu với lứa tuổi. Việc trẻ khó thích ứng, không đảm bảo được yêu cầu, nội dung học tập cơ bản có nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó, có ảnh hưởng đến khả năng trí tuệ của trẻ. Để nghiên cứu và chẩn đoán trí tuệ của trẻ em, người ta có thể sử dụng rất nhiều phương pháp, phương tiện khác nhau. Song việc dùng trắc nghiệm để đo đạc trí tuệ là một phương pháp được sử dụng tương đối nhiều.

1. Trí tuệ và sự phát triển tuệ

1.1. Trí tuệ là gì?

Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta thường gặp các thuật ngữ: “trí khôn”, “trí thông minh”; “trí lực’; “trí tuệ”... Dùng để chỉ khả năng hiểu biết và suy nghĩ của con người.

“Trí khôn” là thuật ngữ dùng chung cho cả người và động vật. Ở đây chủ yếu nói đến phương diện phát sinh hình thành khả năng vận động trí óc của cả động vật và người. Ở động vật, loài khỉ đã xuất hiện những hành vi trí tuệ, có tác giả gọi đó là “tư duy bằng tay”. Và thông thường người ta gọi đó là “trí khôn động vật”.

Như vậy, trí thông minh có ở con người, nó đối lập với tính cứng nhắc rập khuôn, không linh hoạt của hành vi bản năng. Trí thông mimh được hình thành và phát triển trong quá trình lĩnh hội nền văn hóa xã hội của loài người. Cốt lõi của trí thông minh là tính tích cực chủ động, linh hoạt, sáng tạo của tư duy.

“Trí lực” là nói đến năng lực hoạt động trí tuệ của cá nhân trong những hoàn cảnh nhất định. Tuy nhiên khi xtrẻxét trí lực cần tính đến các yếu tố nhân cách của cá nhân đó.

Như vậy, các thuật ngữ “trí tuệ”, “trí thông minh”, ”trí khôn”, “trí lực” có nhiều điểm trùng nhau nhưng không đồng nhất với nhau.

Thuật ngữ “trí tuệ” được dùng để mô tả cấu trúc hoạt động của trí óc; nhằm đảm bảo sự thích nghi giữa chủ thể với những thay đổi của điều kiện sống.

1.2. Khái niệm về sự phát triển trí tuệ

Sự phát triển trí tuệ là sự biến đổi về chất trong hoạt động nhận thức, sự biến đổi đó được đặc trưng bởi sự thay đổi cấu trúc cái được phản ánh và phương thức phản ánh chúng.

1.3. Cấu trúc của trí tuệ

Từ khái niệm về trí tuệ, ta thấy cấu trúc của trí tuệ bao giờ cũng bao gồm 2 thành phần: Tri thức và các thao tác trí tuệ, nói cách khác là cái phản ánh và phương thức phản ánh.

* Tri thức: Là tất cả sự hiểu biết kinh nghiệm của loài người, là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển tư duy.

* Thao tác trí tuệ: Là cách thức hành động chế biến các tri thức và kinh nghiệm sống.

Do đó, để phát triển trí tuệ của mình trẻ không còn cách nào khác là phải tự mình hành động để xây dựng các thao tác, đơn vị cấu trúc trí tuệ.

Trong đó thao tác bàn tay là cơ sở, nguồn gốc tạo nên các thao tác trí óc.

Như vậy, ta nên hiểu thao tác trí tuệ không chỉ đơn thuần là những thao tác tư duy mà còn cả những hoạt động nhận thức khác. Nhờ có thao tác trí tuệ, cá nhân chế biến tri thức thành kinh nghiệm sống của bản thân để nắm bắt và làm chủ một cách dễ dàng. Muốn trí tuệ phát triển cần phải có tri thức là nguyên liệu để hoạt động, đồng thời phải có phương thức chế biến tri thức đó. Tri thức và thao tác trí tuệ nằm trong mối quan hệ biện chứng với nhau, nếu thiếu một trong hai yếu tố đó sẽ không có sự phát triển trí tuệ.

2. Sự phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo

Sự phát triển trí tuệ là tổ hợp nhiều thành phần và thao tác khác nhau. Trong đó nổi lên là sự phát triển của tư duy và ngôn ngữ.

2.1. Sự biểu hiện của hình thức tư duy

Ở tuổi mẫu giáo nhỡ, trẻ phải giải những bài toán ngày càng phức tạp và đa dạng, đòi hỏi phải tách biệt và sử dụng những mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng và hành động trong hoạt động hàng ngày trẻ, không chỉ sử dụng những kinh nghiệm đã có, mà còn không ngừng biến đổi những kinh nghiệm ấy để thu nhận những kết quả mới hơn. Trẻ có nhu cầu khám phá các quan hệ phụ thuộc giữa các sự vật và hiện tượng như quan hệ giữa độ ẩm và độ mềm của đất khi nặn, giữa độ cao được nâng lên với chiều dài của mỗi phần của chiếc cầu bập bênh, giữa độ lăn xa với sức búng của ngón tay và hòn bi... Tư duy đang trên đà phát triển khiến đứa trẻ dự kiến được hành động và lập kế hoạch cho hành động của mình. Phần lớn ở tuổi mẫu giáo nhỡ đã có khả năng suy luận. Vấn đề là cần phải xtrẻxét để biết chúng suy luận theo kiểu tư duy nào?

Cả tư duy trực quan hành động lẫn tư duy trực quan hình tượng đều liên hệ mật thiết với ngôn ngữ. Vai trò của ngôn ngữ ở đây rất lớn, nó giúp trẻ nhận ra bài toán cần phải giải quyết, giúp trẻ đặt kế hoạch để tìm ra cách giải quyết và nghe những lời giải thích hướng dẫn của người lớn.

2.2. Sự biểu hiện trong ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo

Ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo đã phát triển cùng với việc trẻ giao tiếp với người xung quanh ngày càng phong phú đa dạng hơn so với lứa tuổi trước ngôn ngữ của trẻ đã phát triển hơn nhiều so với lứa tuổi nhà trẻ mà nó được hoàn thiện một cách rõ rệt. Trẻ hay nói hơn và nói nhiều hơn, trẻ lặp lại tất cả những điều người lớn nói thậm chí nó không hiểu được nghĩa.

Trong suốt tuổi mẫu giáo, nếu được giáo dục đúng đắn, trẻ có đủ khả năng nắm được văn phạm tiếng mẹ đẻ. Con đường nắm bắt này độc đáo khác người lớn. Trẻ không học quy tắc ngữ pháp, thậm chí giới từ, động từ là gì? Trẻ cũng không biết là trẻ nắm các từ, quy tắc ngữ pháp qua thực tế, giao tiếp với nguời lớn và người xung quanh.

3. Vài nét về khách thể nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu trên 35 trẻ độ tuổi 4-5 tuổi trường Mầm non Hoa Hồng, thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh, theo các tiêu chí sau.

          Bảng 1: Mẫu khách thể nghiên cứu 

Các tiêu chí

 

Độ tuổi

Giới tính

Thứ tự/ Số con trong GĐ

Thành phần gia đình

4-4.5

4.5-5

Nam

Nữ

1/1

1/2

2/2

2CNVC

1CNVC

LĐTD

SL

14

21

16

19

10

13

12

15

12

8

%

40

60

48.6

51,4

28.57

37.14

34.29

42.86

34.29

22.86

 

Trong số 35 trẻ mẫu giáo nhỡ của trường mầm non Hoa Hồng – Quảng Yên mà chúng tôi tìm hiểu có:

15 trẻ sinh ra trong gia đình có cả cha lẫn mẹ đều là cán bộ công nhân viên chức nhà nước (CBCNVCNN) chiếm 42,86 %

12 trẻ là con của gia đình có một người cha hoặc mẹ là CNVCNN; còn một người là lao động tự do chiếm 34,29 %.

8 trẻ là con của gia đình có cả cha và mẹ đều là lao động tự do chiếm 22,86%.

Trong các tiêu chí nghiên cứu chúng tôi còn nghiên cứu ở các độ tuổi. Mặc dù trẻ đều ở lớp mẫu giáo nhỡ có độ tuổi từ 4-5 tuổi. Nhưng, do đặc điểm của trắc nghiệm tính đến từng tháng và do trẻ mẫu giáo hơn nhau một vài thàng là có sự khác biệt nhau về thể chất. Do vậy, chúng tôi muốn tìm hiểu trí tuệ của các trẻ có khác nhau khi hơn một số tháng tuổi hay không.

Những trẻ 4-5 tuổi của trường có độ tuổi từ 4 năm 2 tháng (là các trẻ ít tháng nhất) đến các trẻ nhiều tháng nhất là 5 năm 4 tháng.

Chúng tôi chia, cứ cách nhau 6 tháng là một bậc để so sánh thì được 2 độ tuổi: 4 - 4,5 tuổi (thực chất là là 4 năm đến 4 năm 6 tháng); từ 4,5 - 5 tuổi (thực tế là 4 năm 7 tháng đến 4 năm 8 tháng). Khi chia như vậy, ở hai trường chúng tôi có tỉ lệ sau:

+ Trẻ ở độ tuổi 4 đến 4,5 có 14/35 trẻ chiếm 40%

+ Trẻ ở độ tuổi 4,5 đến 5 tuổi có 21/35 trẻ chiếm 60%

4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ của trẻ 4-5 tuổi

Theo đa số các nhà tâm lí học thì sự phát triển trí tuệ của con người phụ thuộc trước hết vào yếu tố bên trong của con người như: Sự phát triển của lứa tuổi, giới tính, tư chất... và còn phụ thuộc các phẩm chất tâm lý khác nhau của nhân cách như: Xu hướng, tình cảm, ý chí, hành động.... Đồng thời nó cũng chịu ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài như: Hoàn cảnh xã hội, môi trường sống; giáo dục, hoạt động cá nhân...

Như vậy, sự phát triển tâm lý con người nói chung và sự phát triển trí tuệ nói riêng chỉ được thực hiện thông qua con đường lĩnh hội.

Trí tuệ được hình thành dần trong hoạt động của mỗi cá nhân, sự phát triển trí tuệ gắn với hoạt động nhận thức của con người, trí tuệ của loài người là sản phẩm của hoạt động. Trí tuệ là tinh lực được chắt lọc từ hành động.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ của trẻ 4-5 tuổi thông qua một số hoàn cảnh như sau:

4.1. Hoàn cảnh, điều kiện sống ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ

4.1.1. Thành phần gia đình, trình độ của cha mẹ và sự phát triển trí tuệ của trẻ

Chúng tôi nghiên cứu ở 35 trẻ mẫu giáo nhỡ của trường mầm non Hoa Hồng. Chúng tôi nhận thấy có nhiều trẻ bố mẹ có trình độ văn hóa khác nhau, nghề nghiệp khác nhau, làm các công việc khác nhau ngoài xã hội. Để tiện nghiên cứu chúng tôi chia thành các nhóm.

  - Trẻ có cả bố và mẹ đều có trình độ văn hóa từ trung học chuyên nghiệp đến cao đẳng, đại học, sau đại học, hiện có công việc ổn định là cán bộ công nhân viên chức Nhà nước.

  - Nhóm thứ 2 là những trẻ có bố (hoặc mẹ) 1 người có trình độ từ trung học chuyên nghiệp là cán bộ công nhân viên chức Nhà nước, 1 người ở nhà lao động tự do, nội trợ…

  - Nhóm 3 là nhóm trẻ có cả cha và mẹ đều là những người lao động tự do, thường có trình độ văn hóa trung học phổ thông, trung học cơ sở, có một số người có trình độ trung cấp nhưng cũng là lao động tự do.

 Khi chia nhóm như vậy và thống kê số liệu, chúng tôi thu được những bảng số liệu sau:

Bảng 2: Mức độ trí tuệ của trẻ mẫu giáo nhỡ xét theo thành phần gia đình

       TPGĐ

 

Mức độ trí tuệ        

2 CNVC

1 CNVC

2 LĐTD

SL

%

SL

%

SL

%

I

1

2.9

1

2.9

1

2.9

II

8

22.9

5

14.3

4

11.4

III

4

11.4

6

17.1

3

8.6

IV

1

2.9

0

0.0

1

2.9

15

42.9

11

31.4

9

25.7

 

Nhìn vào bảng số liệu và biểu đồ, có thể nhận thấy: Trẻ trong gia đình cả bố và mẹ đều là CBCNVCNN (cán bộ, công nhân viên chức nhà nước) có trình độ phát triển trí tuệ ở cả 4 mức trong đó trẻ có trí tuệ ở mức khá chiếm tỷ lệ cao hơn. (số trẻ có trí tuệ đạt từ mức trung bình trở lên chiếm 37.1 %) trong gia đình chỉ có một người là bố (hoặc mẹ) là CBCNVCNN. Còn một người là lao động tự do thì tỉ lệ trẻ có mức độ trí tuệ từ trung bình trở lên chiếm 34,3 %. Trong khi đó trẻ ở gia đình có cả bố và mẹ có trình độ văn hóa PTTH: THCS, đều là lao động tự do thì trẻ có mức độ trí tuệ từ trung bình trở lên chỉ đạt 22,9 % và mức độ IV lại chiếm tới 2,9 %. Trẻ trong gia đình cả bố và mẹ đều là CBCNVCNN thì có trình độ phát triển trí tuệ cao hơn, điều này có thể lý giải: Trẻ trong gia đình bố mẹ là CBCNVCNN, gia đình tri thức, được tạo điều kiện chăm sóc, giáo dưỡng quan tâm đến sự phát triển nhận thức của trẻ hơn trẻ ở gia đình có bố mẹ là lao động tự do nên khả năng tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng của trẻ có phần phong phú hơn giúp cho trẻ thực hiện nhiệm vụ vẽ hình người đạt nhiều chi tiết hơn. Qua thực tế nghiên cứu và trao đổi với cha mẹ các trẻ chúng tôi thấy những gia đình trí thức coi trọng việc giáo dục từ sớm hơn. Họ cho rằng dù làm nghề gì cũng cần có nhận thức nhanh, biết quan sát, tư duy, nhanh nhẹn thì tốt hơn. Mặt khác, truyền thống học tập của gia đình cũng không kém phần quan trọng giúp cho sự phát triển trí tuệ của trẻ.

Những gia đình bố mẹ là lao động tự do, không có công ăn việc làm ổn định, phải luôn lo công ăn việc làm kiếm sống và đa số họ là người có trình độ văn hóa hạn chế. Do đó mà họ ít có điều kiện chăm sóc giáo dục, rèn luyện cho con cái, thậm chí có thể không hiểu hoặc không có phương pháp dạy con. Có bà mẹ phát cáu lên với con vì tính tò mò của con trẻ: “Hỏi gì mà hỏi lắm thế”. Truyền thống học tập trong gia đình kiểu này nhiều khi không có tác động tích cực tới sự phát triển của trẻ. Tuy nhiên, cũng có phụ huynh rất thấu hiểu việc chăm lo đến học tập phát triển con cái nhưng vì quá bận và khả năng có hạn. Họ chưa có phương pháp dạy con để phát triển trí tuệ, các phẩm chất tâm lý của nhân cách cho con. Một ông bố nói: “Cháu nhà tôi rất hay tò mò và hay hỏi bạn, mẹ cháu nhiều khi khó chịu tôi biết cháu như thế cũng có vẻ ham học hỏi nhưng nhiều khi chính tôi cũng lúng túng trước câu hỏi của cháu”. Đây chính là lời tâm sự của một ông bố nhưng cũng chính là suy nghĩ của nhiều gia đình. Nhiều khi người lớn khó mà trả lời hợp lý những câu hỏi của trẻ. Bởi các trẻtò mò muốn biết những kiến thức, kinh nghiệm, cũng như khả năng của các trẻchưa có. Vấn đề là các bậc cha mẹ, người lớn hãy giúp trẻ nhận thức, không cáu gắt làm mất nhận thức của trẻ.

Trẻ ở trong gia đình có một người cha (hoặc mẹ) là CBCNVCNN, một người là lao động tự do, chúng tôi nhận thấy trong số 5 trẻ ở mức khá còn 1 trẻ ở mức xuất sắc thì 5 trẻ có bố là CBCNVCNN, trình độ đại học, mẹ là nội trợ trình độ 12/12. Chỉ có một trẻ mẹ là cán bộ, bố làm ngoài. Còn 6 trẻ ở mức trung bình và không có trẻ nào ở mức yếu.

Đó là sự đa dạng, phong phú của điều kiện sống, môi trường sống, thành phần gia đình của mẫu giáo nhỡ của trường mầm non Hoa Hồng.

Chúng tôi còn tiếp xúc với một phụ huynh là giáo viên. Chị là người mẹ luôn có ý thức chăm lo đến sự phát triển của thể chất, tình cảm, trí tuệ của con. Chị nói rằng ngay từ khi cháu còn nhỏ chị đã quan tâm đến việc phải chăm sóc dạy dỗ cháu như thế nào, chị chú ý thông qua lời nói hành động hàng ngày của mình giúp cháu phân biệt các khái niệm thường gặp một cách sơ đẳng. Chẳng hạn, để giúp cháu phân biệt khái niệm “ngày – đêm” một cách sơ đẳng, chị phải xử sự để cháu thấy đươc ban ngày: Bố mẹ đi làm, trẻ chơi, học, mọi người chơi đùa, cưng nựng trẻ. Còn tối ai cung phải đi ngủ, không ai nô đùa nữa .v.v. Và sau này đi học cháu sẽ hiểu một cách khoa học. Đó là suy nghĩ và cách dạy con của một người mẹ là giáo viên. Chị rất am hiểu tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm và như vậy con chị sớm có hiểu biết, phát triển tâm lý, trí tuệ. Người mẹ rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ của trẻ ở tuổi mẫu giáo. Nó ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của trẻ không chỉ ở mặt chăm sóc, nuôi dưỡng mà còn ở mặt phát triển các phẩm chất tâm lý, các chức năng tâm lý trong đó có trí tuệ. Một người mẹ có kiến thức, am hiểu phương pháp, cách thức dạy trẻ sẽ ảnh hưởng tốt hơn so với người mẹ không am hiểu gì, không biết cách nuôi và dạy con.

    4.1.2. Mức độ phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo nhỡ xét theo quy mô gia đình

Chúng tôi chia khách thể là con 1 trong gia đình mới có 1 con (1/1), là con thứ nhất trong gia đình có 2 con (1/2), là con thứ 2 trong gia đình 2 con (2/2). Chúng tôi đã tiến hành thống kê và nghiên cứu trí tuệ của trẻ phân phối như thế nào theo thứ tự và số con của gia đình, trong các quy mô gia đình khác nhau. Kết quả thu được như sau:

Bảng 3: Mức độ phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo nhỡ xét theo quy mô gia đình

     QMGĐ

 

Mức độ trí tuệ        

1/1

1/2

2/2

SL

%

SL

%

SL

%

I

1

2.9

1

2.9

1

2.9

II

6

17.1

4

11.4

7

20.0

III

4

11.4

6

17.1

3

8.6

IV

0

0.0

1

2.9

1

2.9

11

31.4

12

34.3

12

34.3

 

Nhìn vào bảng 3 ta thấy, trẻ có mức độ phát triển trí tuệ không đồng đều theo thứ tự và số con trong gia đình.

Các trẻ là con một trong gia đình một con và là con thứ 2 trong gia đình có 2 con có trí tuệ phát triển ở mức khá cao hơn trẻ là con thứ nhất trong gia đình có 2 con.

Cụ thể: Trẻ có trí tuệ thuộc mức độ khá là con  thứ 2 trong gia đình 2 con nhiều nhất (20.0 %). Sau đó đến trẻ là con một trong gia đình 1 con đạt 17.1 %. Trẻ là con thứ nhất trong gia đình 2 con chỉ đạt 11.4 %.

Như vậy, ta thấy thứ tự và số con trong gia đình có ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ của trẻ. Tuy rằng, sự chênh lệch không lớn lắm. Song đó cũng là điều các bậc cha mẹ cũng như các nhà giáo dục cần chú ý quan tâm, để giúp cho công tác giáo dục trẻ không chỉ phát triển các phẩm chất tâm lý nhân cách tốt, mà còn giúp phát huy năng lực trí tuệ của trẻ ở mức tốt nhất.

4.2. Giới tính và sự phát triển trí tuệ

Chúng tôi nghiên cứu sự phát triển trí tuệ giữa nam và nữ và thu được bảng số liệu sau:

Bảng 4: Sự phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo nhỡ xét theo giới tính

          Giới tính

 

Mức độ trí tuệ

Nam

Nữ

SL

%

SL

%

I

1

2.9

2

5.7

II

8

22.9

9

25.7

III

6

17.1

7

20.0

IV

2

5.7

0

0.0

17

48.6

18

51.4

 

Số liệu bảng 4 cho thấy:

Ở mức độ I: Nữ có 2 trẻ đạt 5.7%, Nam có 1 trẻ đạt 2.9 %

          Ở mức độ II: Nữ có 9 trẻ đạt 25.7 %, Nam có 8 trẻ đạt 22.9 %

Ở mức độ III: Nữ có 7 trẻ đạt 20 %, Nam có 6 trẻ đạt 17.1%

Ở mức độ IV: Nữ không có trẻ nào, Nam có 2 trẻ chiếm tới 5.7%

Nhìn vào số liệu và biểu đồ chúng tôi thấy: Có sự khác biệt về mức độ trí tuệ giữa trẻ nam và nữ (mức độ phát triển trí tuệ của trẻ khác giới phát triển không đồng đều). Các trẻ nữ có mức độ phát triển trí tuệ cao hơn các trẻ nam.

Cụ thể mức I: Nữ đạt 5.7 % trong khi nam 2.9%. Ở mức IV nữ không có thì nam lại chiếm tới 5,7%. Nếu tính mức độ trí tuệ từ trung bình trở lên: Nam đạt 42.9 %, nữ đạt 51.4 %. Ở mức độ nào nữ cũng chiếm tỉ lệ cao hơn trong từng mức độ so bài và điểm nhiều bài của nữ hơn nam 1 hoặc 2 điểm. Chẳng hạn, trong cùng mức khá bài của nữ có thể hơn bài của nam 1 hoặc 2 điểm.

Điều đáng chú ý khi quan sát tranh của trẻ nữ và trẻ nam thì sắc thái giới tính để lại dấu ấn rõ nét lên bức tranh. Đa số, trẻ nam thể hiện trong tranh của mình là hình ảnh người đàn ông, vẽ bố, vẽ người máy, nhất là mái tóc ngắn trên đầu.

Còn các trẻ nữ thường vẽ hình ảnh người phụ nữ: Mẹ, bạn gái, em gái.... (Tranh của bé Lê Quỳnh T; Đỗ Hoàng N). Hình ảnh người phụ nữ mái tóc dài, có nơ buộc tóc, váy, hoa trên áo... cầm hoa v.v.

Nhìn chung, tranh của trẻ nữ phong phú hơn tranh của trẻ nam và đặc trưng cho giới.

Qua việc phân tích số liệu và tranh vẽ của các trẻ nam và nữ chúng tôi thấy: giới tính để lại dấu ấn trong sự phát triển trí tuệ của trẻ (tranh của trẻ nam khác tranh của trẻ nữ), trí tuệ của trẻ nam khác các trẻ nữ. Ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ, ở trẻ nữ phát triển trí tuệ có phần cao hơn trẻ nam. Do trẻ nữ ở độ tuổi này chú ý quan sát, nghe lời cô giáo, cha mẹ, người lớn hơn. Trẻ nam thường hiếu động, khả năng tập trung chú ý chưa cao. Do đó, mà nhận thức của trẻ hai giới có sự khác nhau, trí tuệ trong độ tuổi này cũng có sự chênh lệch nhau chút ít.

     Qua việc nghiên cứu trí tuệ của trẻ mẫu giáo nhỡ bằng trắc nghiệm của F.Good enough. Chúng tôi đi đến một số kết luận như sau: Đa số trẻ có trí tuệ phát triển ở mức trung bình. Các trẻ có trí tuệ thuộc mức I (Tốt) và mức độ IV (Yếu) chiếm tỉ lệ thấp hơn. Sự phát triển trí tuệ ở trẻ mẫu giáo nhỡ không đồng đều ở tất cả trẻ được nghiên cứu. Ở tuổi mẫu giáo nhỡ trí tuệ của nữ phát triển hơn nam. Tuy nhiên sự chênh lệch này không đáng kể. Sự phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo chịu ảnh hưởng của của điều kiện môi trường sống, hoàn cảnh gia đình. Thành phần của gia đình, trình độ của cha mẹ, nghề nghiệp của cha mẹ có ảnh hưởng đến sự phát triển nhận thức của trẻ mẫu giáo nhỡ. Do đó, ở độ tuổi này trình độ nhận thức của trẻ đã và đang phát triển. Gia đình, người lớn, khi chăm sóc giáo dục trẻ, tiếp xúc với trẻ cần chú ý tác động làm phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ, để chuẩn bị cho bước phát triển tiếp theo khi đi học phổ thông.

 

                                       

Th.s Nguyễn Minh Huệ - Khoa Sư phạm Mầm non

BÌNH LUẬN

Họ tên (*)
Email (*)
Nội dung (*)

0 bình luận

Video Clip