Thứ bảy, 21/04/2018 | GMT+7
TIN VẮN
~ ~ Chào mừng Năm Du lịch Quốc gia 2018 - Hạ Long - Quảng Ninh ~ Nhiệt liệt chào mừng kỷ niệm 43 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2018) ~ Nhiệt liệt chào mừng 132 năm ngày Quốc tế lao động (1/5/1886 - 1/5/2018) ~ Hạ Long - Quảng Ninh, điểm đến an toàn, mến khách và thân thiện ~   ~~~   

Thông tin khoa học

Tư duy phê phán (critical thinking) trong dạy học tiếng Anh

Ngày nay tư duy phê phán hay tư duy phản biện (critical thinking) đã trở thành một thuật ngữ được các nhà giáo dục chú ý không chỉ trên thế giới mà cả ở Việt Nam. Đặc biệt trong thời kỳ giáo dục Việt Nam tập trung đổi mới phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm, hướng tới phát triển tính chủ động sáng tạo, phát triển kỹ năng cho người học.  Trên thế giới Tư duy phê phán không chỉ được công nhận là kỹ năng mà đã trở thành một ngành học chính quy tại các đại học của Mỹ và Canada (Walton, 1989).

Thế nào là tư duy phê phán (critical thinking)

Có rất nhiều định nghĩa về tư duy phê phán, các định nghĩa dù có một số điểm khác nhau nhưng tất cả đều có điểm chung là đề cao khả năng phân tích, tng hp, phán đoán, đánh giá, tư duy phn biện của con người. Thạc sỹ Lê Tấn Huỳnh Cẩm Giang đưa ra kết quả nghiên cứu của Jones và các đồng nghiệp, họ đã công bố kết quả điều tra 500 nhà hoạch định chính sách, nhà giáo dục, người sử dụng lao động, họ đã đồng ý rằng: “Tư duy phê phán là một phạm trù chỉ sự suy luận theo lối mở, không bị hạn chế, số lượng các giải pháp là không giới hạn, bao hàm cả việc xây dựng các điều kiện, các quan điểm và ý tưởng đúng đắn để đi đến kết luận vấn đề .”

Tư duy phê phán trong dạy học ngoại ngữ

Trong quá khứ, đã có giai đoạn kết quả của quá trình học tập được đánh giá ở mức độ học thuộc lòng và tái hiện lại kiến thức. Nhưng ngày nay, nhu cầu xã hội cần nguồn nhân lực không chỉ có kiến thức mà phải vận dụng sáng tạo kiến thức vào thực tế công việc, những con người có năng lực, kỹ năng làm việc hiệu quả trong những điều kiện khác nhau. Do vậy, quá trình học tập không thể chỉ dừng lại ở mức tái hiện kiến thức mà cần nâng hiệu quả học tập lên các bậc cao hơn. Các kỹ năng tư duy phê phán giúp người học giải quyết vấn đề trong các tình huống mới, đưa ra những liên hệ, những bao quát, kết hợp thông tin kiến thức dưới những dạng thức mới, đưa ra những đánh giá và phán đoán dựa trên bằng chứng và những tiêu chuẩn. Việc học trở nên thú vị và hấp dẫn hơn. Bên cạnh đó, do bản thân luôn luôn phải đào sâu suy nghĩ, các kỹ năng sáng tạo, lập luận, phân tích của họ cũng trở nên nhạy bén và tốt hơn. Lượng kiến thức tiếp thu tuy nhiều, sâu nhưng lại không tạo sự căng thẳng. Việc dạy và rèn luyện cho người học thiết lập và có kỹ năng tư duy phê phán là rất quan trọng trong thời đại mới. Theo các nhà giáo dục học, tư duy phê phán có thể và nên được dạy cho người học từ những bậc học đầu tiên theo từng mức độ phù hợp.

Năm 1956, nhà tâm lý học Benjamin Bloom đã phát triển một hệ thống tư duy phê phán trong giáo dục và khuyến khích tư duy bậc cao. Phân loại học của Bloom là một loạt các kỹ năng tư duy mà giáo viên nên phát triển trong người học của mình để giúp họ học hiệu quả hơn. Sau này các nhà giáo dục khác đã xây dựng được hệ thống phân loại kỹ năng tư duy trên cơ sở phân loại của Bloom, đặc biệt là Anderson và Krathwohl đã giới thiệu bộ các kỹ năng tư duy giúp người học phát triển tư duy phê phán từ bậc thấp đến bậc cao, bộ kỹ năng này có thể được hiểu thông qua ví dụ với dạy học ngoại ngữ như sau:

1. Hiểu (Understanding)

Khi người học được yêu cầu đọc hoặc nghe một văn bản, họ xử lý nó và sau đó cố gắng hiểu nó. Với ngôn ngữ mẹ đẻ đây chỉ đơn giản là trường hợp hiểu biết những gì người học đang đọc, nhìn thấy hay nghe. Đối với học ngoại ngữ, giai đoạn này mất nhiều thời gian hơn. Giáo viên có thể cần phải đặt câu hỏi như “Đây là loại văn bản nào? Có phải được trích ra từ tờ báo không? Bạn có thể đọc được nó ở đâu?”

2. Áp dụng (Applying)

            Sau khi nghiên cứu văn bản, người học lấy thông tin mới và áp dụng điều gì đó từ văn bản vào học tập, công việc hay cuộc sống. Trong lớp học ngôn ngữ, điều này thường là trả lời một số câu hỏi về hiểu biết hoặc điền vào một bảng với một số sự kiện hoặc số liệu trong văn bản. Nói cách khác, đây là lúc người học hoàn thành các bài tập với những thông tin người học đã hiểu.

3. Phân tích (Analysing)

Giai đoạn phân tích là lúc người học trở lại văn bản và bắt đầu đặt câu hỏi về cách trình bày thông tin của tác giả. Ví dụ, người học có thể đã tìm thấy thông tin trong văn bản nhưng tiếp theo giáo viên muốn họ tìm bằng chứng cho các câu trả lời. Thường thì nhiệm vụ liên quan đến việc xác định cách thức hoặc các quan điểm mà văn bản được xây dựng. Nói cách khác, người học đang tìm hiểu sâu hơn về văn bản, chứ  không chấp nhận hiểu nó dựa trên nghĩa biểu hiện qua ngôn từ.

4. Đánh giá (Evaluating)

Đánh giá là một trong những kỹ năng tư duy phê phán bậc cao quan trọng. Đây là giai đoạn mà người học không tập trung vào lập luận và quan điểm của tác giả mà bắt đầu đánh giá tính hợp lí và chính xác của thông tin. Giai đoạn này giáo viên có thể yêu cầu người học đánh giá văn bản xem có bao nhiêu phần trăm thông tin được minh chứng, bao nhiêu phần là ý kiến của tác giả.  Nếu người học sử dụng thông tin trong văn bản để hỗ trợ bài viết hay thuyết trình của riêng họ thì sau đó họ cần phải chắc chắn rằng nó hợp lí và chính xác. Đánh giá là giai đoạn phức tạp đối với nhiều người học ngôn ngữ vì nó đòi hỏi kỹ năng ngôn ngữ bậc cao.

5. Sáng tạo(Creating)

 Sau khi nghiên cứu một chủ đề bằng tìm hiểu một số văn bản, người học cần phải áp dụng kiến ​​thức mới và tạo ra một cái gì đó của riêng mình. Ví dụ, viết một bài tiểu luận thể hiện ý kiến ​​riêng của bản thân nhưng dựa trên sự thật và bằng chứng họ đã nghiên cứu. Hoặc có thể họ làm bài thuyết trình nhóm trong đó họ trình bày tất cả các lập luận trên hai quan điểm đồng tình và phản đối một ý kiến trước khi họ đưa ra ý kiến riêng để kết luận.

            Năm kỹ năng tư duy phê phán được biểu diễn theo thứ tự và độ khó theo bậc thang như hình bên. Các nhà giáo dục cần căn cứ vào cấp độ để xây dựng chương trình, kế hoạch giúp phát triển kỹ năng tư duy phê phán cho người học.

           

Một số hoạt động dạy học tiếng Anh sử dụng tư duy phê phán 

  1. Dạy và học từ tiếng Anh

             Trong hầu hết các hoạt động dạy từ mới, giáo viên dạy cho người học từ mới trên ba phương diện: theo hình thức, ý nghĩa và cách sử dụng từ vựng. Dạy học theo Tư duy phê phán cũng bao gồm các phần này và người học nên biết từ đã học trong mối liên hệ với một hoặc các từ nào đó liên quan. Ví dụ: giả sử giáo viên đang dạy cho sinh viên bộ từ vựng sau đây về các hình thức vận chuyển:

bicycle

airplane

rocket

cruise ship

taxi

sailboat

hot air balloon

subway train

bus

skateboard

Sau khi sinh viên đã có những kiến thức cơ bản về hình thức, phát âm, nghĩa và cách dung, giáo viên có thể tổ chức hoạt động sau:

  1. Chia lớp thành 4 nhóm
  2. Yêu cầu trong nhóm, sinh viên liệt kê các từ chỉ phương tiện từ chậm nhất đến nhanh nhất.
  3. Sau đó yêu cầu sinh viên nhóm này thảo luận với sinh viên nhóm khác về liệt kê.

Hoạt động này có vẻ như đơn giản nhưng nó giúp cho sinh viên ngoài việc học từ tiếng Anh nó đòi hỏi sinh viên suy nghĩ logic và phê phán để đưa ra quyết định thứ tự của phương tiện. Sinh viên có thể cho rằng skateboard là chậm nhất, nhưng khó quyết định hơn giữa bicycle và sailboard, cái nào nhanh hơn còn phụ thuộc vào tốc độ gió, cũng như vậy sailboard có cùng tốc độ với hot air balloon không vì chúng cùng di chuyển phụ thuộc vào gió. Như vậy taxi có nhanh hơn subway train không? Đôi khi taxi phải đỗ một số trạm chuyển giao…

Mục đích của hoạt động này không phải để tìm ra bảng liệt kê thứ tự về tốc độ đúng mà để người học suy nghĩ sâu hơn về các từ được học, mỗi từ giới thiệu cái gì, nó đóng vai trò vị trí thế trong cả hệ thống phương tiện giao thông. Làm như vậy, sinh viên phải sử dụng tất cả những kỹ năng ngôn ngữ để diễn đạt, bài học không chỉ dừng ở việc nhớ từ mà trải nghiệm sử dụng từ trong mối quan hệ với các từ khác.

2.  Đặt câu hỏi

Đôi khi một câu trả lời dễ dàng thì không thể hiện được nhiều hiệu quả của dạy học. Làm cho người học suy nghĩ về cách họ trả lời câu hỏi mà họ đã làm sẽ thách thức họ suy nghĩ nghiêm túc và giúp họ sử dụng ngôn ngữ nhiều hơn và sử dụng nó theo cách thực tế. Ví dụ, trong một hoạt động để sử dụng thì tương lai đơn giản, giáo viên có thể hỏi người học những gì họ sẽ làm trong năm năm. Một người có thể trả lời rằng bạn ấy sẽ trở thành một ngôi sao điện ảnh. Giáo viên có thể đặt câu hỏi như sau để khiến bạn đó suy nghĩ kỹ hơn: Điều gì làm bạn nghĩ vậy? Bằng chứng nào bạn thấy trong cuộc sống của bạn bây giờ sẽ làm cho điều đó đúng trong tương lai? Bằng cách đặt những câu hỏi này, giáo viên thách thức người học suy nghĩ về suy nghĩ của mình. Đồng thời, tạo cơ hội cho người học sử dụng tiếng Anh để thể hiện ý tưởng của mình.

3.  Khuyến khích thêm

Đối với người học tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai, đưa ra một câu trả lời nhanh chóng thường là mục tiêu cần đạt. Một câu trả lời nhanh cho thấy người học có thể sử dụng ngôn ngữ. Tuy nhiên, một câu trả lời nhanh thường không thúc đẩy tư duy phê phán. Sử dụng các cụm từ để người học nói (và suy nghĩ) nhiều hơn sẽ giúp họ sử dụng tư duy sâu sắc hơn. Giáo viên có thể nói với người học: Nói cho tôi biết thêm về điều đó. Bạn nghĩ gì khác? Tại sao lại tốt / xấu / đáng sợ / khó khăn / hay không? Phần nào thú vị nhất với bạn? Tại sao? Đặt những câu hỏi này thách thức người học phát triển tư duy và nói nhiều hơn.

Trên đây là một số ví dụ về các hoạt động phát triển tue duy phản biện trong dạy và học tiếng Anh. Ngoài ra còn rất hiều các hoạt động khác người giảng dạy tiếng Anh có thể sử dụng trong các bài học trên lớp cũng như các hoạt động ngoài lớp học.

            Một người sở hữu khả năng tư duy phê phán thành thạo có nghĩa là đã có một hành trang thiết yếu quan trọng để thành công trong học tập, và công việc trong tương lại. Đây là xu hướng đào tạo trong thế kỷ 21.

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Th.s Lê Tấn Huỳnh Cẩm Giang (2011).  Tư Duy Phản Biện – Critical Thingking. Viện Nghiên cứu Giáo dục

2. Hughes, J. (204).  Critical Thinking in the Language Classroom.

3. Verner, S. 8 critical thinking Activities for ESL students. Busy Teacher

 

 

Nguyễn Thị Hảo

BÌNH LUẬN

Họ tên (*)
Email (*)
Nội dung (*)

0 bình luận

Video Clip